Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì tà kiến như sau sanh khởi: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?
Vi-n 3 —Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, do có sắc, chấp thủ sắc, thiên chấp sắc nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.
Vi-n 5-7 … thọ… tưởng… các hành…
Vi-n 8 Do có thức, chấp thủ thức, thiên chấp thức nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.
Vi-n 9 Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10-13 … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’”ti?
Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Vedanāya sati …
saññāya sati …
saṅkhāresu sati …
viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa, evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Catutthaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise:
‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine’?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises:
‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’
When feeling …
perception …
choices …
consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, the view arises:
‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’
What do you think, mendicants?
Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise:
‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine’?”
“No, sir.”
“Is feeling …
perception …
choices …
consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would the view arise:
‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine’?”
“No, sir.”
“Seeing this …
They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì tà kiến như sau sanh khởi: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?
Vi-n 3 —Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, do có sắc, chấp thủ sắc, thiên chấp sắc nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.
Vi-n 5-7 … thọ… tưởng… các hành…
Vi-n 8 Do có thức, chấp thủ thức, thiên chấp thức nên tà kiến này khởi lên: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”.
Vi-n 9 Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi lên tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10-13 … Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ cái ấy, và khởi tà kiến như sau: “Nếu trước không có ta, thời đã không có của ta. Nếu sẽ không có ta, thời sẽ không có của ta”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’”ti?
Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Vedanāya sati …
saññāya sati …
saṅkhāresu sati …
viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa, evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Catutthaṁ.