Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Vesālī, tại Ðại Lâm, ngôi nhà có nóc nhọn.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn dùng nhiều phương tiện giảng về bất tịnh, nêu rõ về bất tịnh, tán thán sự tu tập bất tịnh.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
—Ta muốn sống Thiền tịnh một mình trong nửa tháng, không gặp một ai, trừ người đem đồ ăn cho Ta.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, không cho một ai đến thăm Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn.
Vi-n 4 Rồi các Tỷ-kheo ấy được nghe Thế Tôn dùng nhiều pháp môn nói về bất tịnh, nêu rõ về bất tịnh, nói lời tán thán sự tu tập bất tịnh, nên sống chuyên chú tu tập bất tịnh dưới nhiều hình thức sai biệt. Họ tủi hổ với thân này, tàm quý và nhàm chán, tầm cầu đem lại con dao. Mười Tỷ-kheo một ngày đem lại con dao … Hai mươi … Ba mươi Tỷ-kheo trong một ngày đem lại con dao.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn sau nửa tháng, từ Thiền tịnh đứng dậy và bảo Tôn giả Ānanda:
—Này Ānanda, vì sao chúng Tỷ-kheo giảm thiểu như vậy?
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn dùng nhiều pháp môn thuyết cho các Tỷ-kheo về bất tịnh, nêu rõ về bất tịnh, tán thán sự tu tập bất tịnh, nên các vị ấy sống chuyên chú tu tập bất tịnh dưới nhiều hình thức sai biệt. Họ tủi hổ với thân nầy, tàm quý và nhàm chán, tầm cầu đem lại con dao. Mười Tỷ-kheo trong một ngày đem lại con dao … Hai mươi … Ba mươi Tỷ-kheo trong một ngày đem lại con dao. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho pháp môn khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo được an trú vào chánh trí.
Vi-n 7 —Vậy này Ānanda, hãy tập họp tại giảng đường tất cả các Tỷ-kheo trú xung quanh Vesālī.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn và mời tất cả Tỷ-kheo trú xung quanh Vesālī tập họp tại giảng đường, rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tập họp. Nay Thế Tôn hãy làm những gì Thế Tôn nghĩ là phải thời.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 9 —Này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất (asecanako), lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức (thànaso).
Vi-n 10 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong cuối mùa hạ, bụi nhớp bay lên và một đám mưa lớn trái mùa lập tức làm chúng biến mất, tịnh chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được biến mất và tịnh chỉ lập tức?
Vi-n 12-18. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống, ngồi kiết-già … “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, và các ác, bất thiện pháp đã sanh được biến mất và tịnh chỉ lập tức.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhūnaṁ anekapariyāyena asubhakathaṁ katheti, asubhāya vaṇṇaṁ bhāsati, asubhabhāvanāya vaṇṇaṁ bhāsati.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“icchāmahaṁ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Nāmhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho te bhikkhū:
“bhagavā anekapariyāyena asubhakathaṁ katheti, asubhāya vaṇṇaṁ bhāsati, asubhabhāvanāya vaṇṇaṁ bhāsatī”ti anekākāravokāraṁ asubhabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti.
Te iminā kāyena aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti.
Dasapi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti, vīsampi …pe… tiṁsampi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti.
Atha kho bhagavā tassa aḍḍhamāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“kiṁ nu kho, ānanda, tanubhūto viya bhikkhusaṅgho”ti?
“Tathā hi pana, bhante, ‘bhagavā bhikkhūnaṁ anekapariyāyena asubhakathaṁ katheti, asubhāya vaṇṇaṁ bhāsati, asubhabhāvanāya vaṇṇaṁ bhāsatī’ti anekākāravokāraṁ asubhabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti.
Te iminā kāyena aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti.
Dasapi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti, vīsampi bhikkhū … tiṁsampi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti.
Sādhu, bhante, bhagavā aññaṁ pariyāyaṁ ācikkhatu yathāyaṁ bhikkhusaṅgho aññāya saṇṭhaheyyā”ti.
“Tenahānanda, yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho.
Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“ayampi kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti.
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse ūhataṁ rajojallaṁ, tamenaṁ mahāakālamegho ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti;
evameva kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti.
Kathaṁ bhāvito ca, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi kathaṁ bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So satova assasati, satova passasati …pe…
‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati.
Evaṁ bhāvito kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi evaṁ bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasametī”ti.
Navamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Now at that time the Buddha spoke in many ways to the mendicants about the meditation on ugliness. He praised the meditation on ugliness and its development.
Then the Buddha said to the mendicants,
“Mendicants, I wish to go on retreat for a fortnight.
No-one should approach me, except for the one who brings my almsfood.”
“Yes, sir,” replied those mendicants. And no-one approached him, except for the one who brought the almsfood.
Then those mendicants thought,
“The Buddha spoke in many ways about the meditation on ugliness. He praised the meditation on ugliness and its development.” They committed themselves to developing the many different facets of the meditation on ugliness.
Becoming horrified, repelled, and disgusted with this body, they looked for a suicide weapon.
Each day ten, twenty, or thirty mendicants committed suicide.
Then after a fortnight had passed, the Buddha came out of retreat and addressed Ānanda,
“Ānanda, why does the mendicant Saṅgha seem so diminished?”
Ānanda told the Buddha all that had happened, and said,
“Sir, please explain another way the mendicant Saṅgha might be settled in enlightenment.”
“Well then, Ānanda, gather all the mendicants staying in the vicinity of Vesālī together in the assembly hall.”
“Yes, sir,” replied Ānanda. He did what the Buddha asked, went up to him, and said,
“Sir, the mendicant Saṅgha has assembled.
Please, sir, come at your convenience.”
Then the Buddha went to the assembly hall, sat down on the seat spread out,
and addressed the mendicants:
“Mendicants, when this immersion due to mindfulness of breathing is developed and cultivated it’s peaceful and sublime, a delectable and blissful meditation. And it disperses and settles unskillful qualities on the spot whenever they arise.
In the last month of summer, when the dust and dirt is stirred up, a large storm out of season disperses and settles it on the spot.
In the same way, when this immersion due to mindfulness of breathing is developed and cultivated it’s peaceful and sublime, a delectable and blissful meditation. And it disperses and settles unskillful qualities on the spot whenever they arise.
And how is it so developed and cultivated?
It’s when a mendicant—gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut—sits down cross-legged, sets their body straight, and establishes mindfulness in their presence.
Just mindful, they breathe in. Mindful, they breathe out. …
They practice like this: ‘I’ll breathe in observing letting go.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out observing letting go.’
That’s how this immersion due to mindfulness of breathing is developed and cultivated so that it’s peaceful and sublime, a delectable and blissful meditation. And it disperses and settles unskillful qualities on the spot whenever they arise.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Vesālī, tại Ðại Lâm, ngôi nhà có nóc nhọn.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn dùng nhiều phương tiện giảng về bất tịnh, nêu rõ về bất tịnh, tán thán sự tu tập bất tịnh.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
—Ta muốn sống Thiền tịnh một mình trong nửa tháng, không gặp một ai, trừ người đem đồ ăn cho Ta.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, không cho một ai đến thăm Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn.
Vi-n 4 Rồi các Tỷ-kheo ấy được nghe Thế Tôn dùng nhiều pháp môn nói về bất tịnh, nêu rõ về bất tịnh, nói lời tán thán sự tu tập bất tịnh, nên sống chuyên chú tu tập bất tịnh dưới nhiều hình thức sai biệt. Họ tủi hổ với thân này, tàm quý và nhàm chán, tầm cầu đem lại con dao. Mười Tỷ-kheo một ngày đem lại con dao … Hai mươi … Ba mươi Tỷ-kheo trong một ngày đem lại con dao.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn sau nửa tháng, từ Thiền tịnh đứng dậy và bảo Tôn giả Ānanda:
—Này Ānanda, vì sao chúng Tỷ-kheo giảm thiểu như vậy?
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn dùng nhiều pháp môn thuyết cho các Tỷ-kheo về bất tịnh, nêu rõ về bất tịnh, tán thán sự tu tập bất tịnh, nên các vị ấy sống chuyên chú tu tập bất tịnh dưới nhiều hình thức sai biệt. Họ tủi hổ với thân nầy, tàm quý và nhàm chán, tầm cầu đem lại con dao. Mười Tỷ-kheo trong một ngày đem lại con dao … Hai mươi … Ba mươi Tỷ-kheo trong một ngày đem lại con dao. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho pháp môn khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo được an trú vào chánh trí.
Vi-n 7 —Vậy này Ānanda, hãy tập họp tại giảng đường tất cả các Tỷ-kheo trú xung quanh Vesālī.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn và mời tất cả Tỷ-kheo trú xung quanh Vesālī tập họp tại giảng đường, rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tập họp. Nay Thế Tôn hãy làm những gì Thế Tôn nghĩ là phải thời.
Vi-n 8 Rồi Thế Tôn đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 9 —Này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất (asecanako), lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức (thànaso).
Vi-n 10 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong cuối mùa hạ, bụi nhớp bay lên và một đám mưa lớn trái mùa lập tức làm chúng biến mất, tịnh chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được biến mất và tịnh chỉ lập tức?
Vi-n 12-18. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống, ngồi kiết-già … “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, và các ác, bất thiện pháp đã sanh được biến mất và tịnh chỉ lập tức.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhūnaṁ anekapariyāyena asubhakathaṁ katheti, asubhāya vaṇṇaṁ bhāsati, asubhabhāvanāya vaṇṇaṁ bhāsati.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“icchāmahaṁ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Nāmhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho te bhikkhū:
“bhagavā anekapariyāyena asubhakathaṁ katheti, asubhāya vaṇṇaṁ bhāsati, asubhabhāvanāya vaṇṇaṁ bhāsatī”ti anekākāravokāraṁ asubhabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti.
Te iminā kāyena aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti.
Dasapi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti, vīsampi …pe… tiṁsampi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti.
Atha kho bhagavā tassa aḍḍhamāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“kiṁ nu kho, ānanda, tanubhūto viya bhikkhusaṅgho”ti?
“Tathā hi pana, bhante, ‘bhagavā bhikkhūnaṁ anekapariyāyena asubhakathaṁ katheti, asubhāya vaṇṇaṁ bhāsati, asubhabhāvanāya vaṇṇaṁ bhāsatī’ti anekākāravokāraṁ asubhabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti.
Te iminā kāyena aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti.
Dasapi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti, vīsampi bhikkhū … tiṁsampi bhikkhū ekāhena satthaṁ āharanti.
Sādhu, bhante, bhagavā aññaṁ pariyāyaṁ ācikkhatu yathāyaṁ bhikkhusaṅgho aññāya saṇṭhaheyyā”ti.
“Tenahānanda, yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho.
Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“ayampi kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti.
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse ūhataṁ rajojallaṁ, tamenaṁ mahāakālamegho ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti;
evameva kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti.
Kathaṁ bhāvito ca, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi kathaṁ bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasameti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So satova assasati, satova passasati …pe…
‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati.
Evaṁ bhāvito kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi evaṁ bahulīkato santo ceva paṇīto ca asecanako ca sukho ca vihāro uppannuppanne ca pāpake akusale dhamme ṭhānaso antaradhāpeti vūpasametī”ti.
Navamaṁ.