Vi-n 1 Ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
Vi-n 3 Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.
Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: “Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại”.
Vi-n 8 Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: “Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?”
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
—Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.
Vi-n 15 Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.
Vi-n 17 Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: “Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.
Vi-n 19 Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 20 Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: “Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn”. Vị vua nói như sau về người ấy: “Các ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng”. Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.
Vi-n 21 Rồi vị vua vào buổi trưa nói: “Này các ông, người ấy như thế nào?”—“Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các ông, các ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa”. Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.
Vi-n 22 Rồi vị vua vào buổi chiều nói: “Này các ông, người ấy như thế nào?”—“Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các ông, các ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều”.
Vi-n 23 Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?
—Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!
Vi-n 24 —Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.
Vi-n 25 Này các Tỷ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.
Sāvatthiyaṁ …
“cattārome, bhikkhave, āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā sambhavesīnaṁ vā anuggahāya.
Katame cattāro?
Kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ.
Ime kho, bhikkhave, cattāro āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā sambhavesīnaṁ vā anuggahāya.
Kathañca, bhikkhave, kabaḷīkāro āhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, dve jāyampatikā parittaṁ sambalaṁ ādāya kantāramaggaṁ paṭipajjeyyuṁ.
Tesamassa ekaputtako piyo manāpo.
Atha kho tesaṁ, bhikkhave, dvinnaṁ jāyampatikānaṁ kantāragatānaṁ yā parittā sambalamattā, sā parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya.
Siyā ca nesaṁ kantārāvaseso anatiṇṇo.
Atha kho tesaṁ, bhikkhave, dvinnaṁ jāyampatikānaṁ evamassa:
‘amhākaṁ kho yā parittā sambalamattā sā parikkhīṇā pariyādiṇṇā.
Atthi cāyaṁ kantārāvaseso anittiṇṇo.
Yannūna mayaṁ imaṁ ekaputtakaṁ piyaṁ manāpaṁ vadhitvā vallūrañca soṇḍikañca karitvā puttamaṁsāni khādantā evaṁ taṁ kantārāvasesaṁ nitthareyyāma, mā sabbeva tayo vinassimhā’ti.
Atha kho te, bhikkhave, dve jāyampatikā taṁ ekaputtakaṁ piyaṁ manāpaṁ vadhitvā vallūrañca soṇḍikañca karitvā puttamaṁsāni khādantā evaṁ taṁ kantārāvasesaṁ nitthareyyuṁ.
Te puttamaṁsāni ceva khādeyyuṁ, ure ca paṭipiseyyuṁ:
‘kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu te davāya vā āhāraṁ āhāreyyuṁ, madāya vā āhāraṁ āhāreyyuṁ, maṇḍanāya vā āhāraṁ āhāreyyuṁ, vibhūsanāya vā āhāraṁ āhāreyyun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanu te, bhikkhave, yāvadeva kantārassa nittharaṇatthāya āhāraṁ āhāreyyun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, kabaḷīkāro āhāro daṭṭhabbo’ti vadāmi.
Kabaḷīkāre, bhikkhave, āhāre pariññāte pañca kāmaguṇiko rāgo pariññāto hoti.
Pañca kāmaguṇike rāge pariññāte natthi taṁ saṁyojanaṁ yena saṁyojanena saṁyutto ariyasāvako puna imaṁ lokaṁ āgaccheyya.
Kathañca, bhikkhave, phassāhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī niccammā kuṭṭañce nissāya tiṭṭheyya. Ye kuṭṭanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Rukkhañce nissāya tiṭṭheyya, ye rukkhanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Udakañce nissāya tiṭṭheyya, ye udakanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Ākāsañce nissāya tiṭṭheyya, ye ākāsanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Yaṁ yadeva hi sā, bhikkhave, gāvī niccammā nissāya tiṭṭheyya, ye tannissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, ‘phassāhāro daṭṭhabbo’ti vadāmi.
Phasse, bhikkhave, āhāre pariññāte tisso vedanā pariññātā honti.
Tīsu vedanāsu pariññātāsu ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, manosañcetanāhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, aṅgārakāsu sādhikaporisā puṇṇā aṅgārānaṁ vītaccikānaṁ vītadhūmānaṁ.
Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Tamenaṁ dve balavanto purisā nānābāhāsu gahetvā taṁ aṅgārakāsuṁ upakaḍḍheyyuṁ.
Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa ārakāvassa cetanā ārakā patthanā ārakā paṇidhi.
Taṁ kissa hetu?
Evañhi, bhikkhave, tassa purisassa hoti:
‘imañcāhaṁ aṅgārakāsuṁ papatissāmi, tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchāmi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, ‘manosañcetanāhāro daṭṭhabbo’ti vadāmi.
Manosañcetanāya, bhikkhave, āhāre pariññāte tisso taṇhā pariññātā honti.
Tīsu taṇhāsu pariññātāsu ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, viññāṇāhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, coraṁ āgucāriṁ gahetvā rañño dasseyyuṁ:
‘ayaṁ te, deva, coro āgucārī, imassa yaṁ icchasi taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, imaṁ purisaṁ pubbaṇhasamayaṁ sattisatena hanathā’ti.
Tamenaṁ pubbaṇhasamayaṁ sattisatena haneyyuṁ.
Atha rājā majjhanhikasamayaṁ evaṁ vadeyya:
‘ambho, kathaṁ so puriso’ti?
‘Tatheva, deva, jīvatī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, taṁ purisaṁ majjhanhikasamayaṁ sattisatena hanathā’ti.
Tamenaṁ majjhanhikasamayaṁ sattisatena haneyyuṁ.
Atha rājā sāyanhasamayaṁ evaṁ vadeyya:
‘ambho, kathaṁ so puriso’ti?
‘Tatheva, deva, jīvatī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, taṁ purisaṁ sāyanhasamayaṁ sattisatena hanathā’ti.
Tamenaṁ sāyanhasamayaṁ sattisatena haneyyuṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so puriso divasaṁ tīhi sattisatehi haññamāno tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyethā”ti?
“Ekissāpi, bhante, sattiyā haññamāno tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyetha;
ko pana vādo tīhi sattisatehi haññamāno”ti.
“Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, viññāṇāhāro daṭṭhabboti vadāmi.
Viññāṇe, bhikkhave, āhāre pariññāte nāmarūpaṁ pariññātaṁ hoti, nāmarūpe pariññāte ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmī”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1At Savatthi. sn.ii.98 “Bhikkhus, there are these four kinds of nutriment for the maintenance of beings that have already come to be and for the assistance of those about to come to be. What four? The nutriment edible food, gross or subtle; second, contact; third, mental volition; fourth, consciousness. These are the four kinds of nutriment for the maintenance of beings that have already come to be and for the assistance of those about to come to be.
SC 2“And how, bhikkhus, should the nutriment edible food be seen? Suppose a couple, husband and wife, had taken limited provisions and were travelling through a desert. They have with them their only son, dear and beloved. Then, in the middle of the desert, their limited provisions would be used up and exhausted, while the rest of the desert remains to be crossed. The husband and wife would think: ‘Our limited provisions have been used up and exhausted, while the rest of this desert remains to be crossed. Let us kill our only son, dear and beloved, and prepare dried and spiced meat. By eating our son’s flesh we can cross the rest of this desert. Let not all three of us perish!’
SC 3“Then, bhikkhus, the husband and wife would kill their only son, dear and beloved, prepare dried and spiced meat, and by eating their son’s flesh they would cross the rest of the desert. While they are eating their son’s flesh, they would beat their breasts and cry: ‘Where are you, our only son? Where are you, our only son?’
SC 4“What do you think, bhikkhus? Would they eat that food for amusement or for enjoyment sn.ii.99 or for the sake of physical beauty and attractiveness?”
“No, venerable sir.”
SC 5“Wouldn’t they eat that food only for the sake of crossing the desert?”
“Yes, venerable sir.”
SC 6“It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment edible food should be seen. When the nutriment edible food is fully understood, lust for the five cords of sensual pleasure is fully understood. When lust for the five cords of sensual pleasure is fully understood, there is no fetter bound by which a noble disciple might come back again to this world.
SC 7“And how, bhikkhus, should the nutriment contact be seen? Suppose there is a flayed cow. If she stands exposed to a wall, the creatures dwelling in the wall would nibble at her. If she stands exposed to a tree, the creatures dwelling in the tree would nibble at her. If she stands exposed to water, the creatures dwelling in the water would nibble at her. If she stands exposed to the open air, the creatures dwelling in the open air would nibble at her. Whatever that flayed cow stands exposed to, the creatures dwelling there would nibble at her.
SC 8“It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment contact should be seen. When the nutriment contact is fully understood, the three kinds of feeling are fully understood. When the three kinds of feeling are fully understood, I say, there is nothing further that a noble disciple needs to do.
SC 9“And how, bhikkhus, should the nutriment mental volition be seen? Suppose there is a charcoal pit deeper than a man’s height, filled with glowing coals without flame or smoke. A man would come along wanting to live, not wanting to die, desiring happiness and averse to suffering. Then two strong men would grab him by both arms and drag him towards the charcoal pit. The man’s volition would be to get far away, his longing would be to get far away, his wish would be to get far away from the charcoal pit. sn.ii.100 For what reason? Because he knows: ‘I will fall into this charcoal pit and on that account I will meet death or deadly suffering.’
SC 10“It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment mental volition should be seen. When the nutriment mental volition is fully understood, the three kinds of craving are fully understood. When the three kinds of craving are fully understood, I say, there is nothing further that a noble disciple needs to do.
SC 11“And how, bhikkhus, should the nutriment consciousness be seen? Suppose they were to arrest a bandit, a criminal, and bring him before the king, saying: ‘Sire, this man is a bandit, a criminal. Impose on him whatever punishment you wish.’ The king says to them: ‘Go, men, in the morning strike this man with a hundred spears.’ In the morning they strike him with a hundred spears. Then at noon the king asks: ‘Men, how’s that man?’–‘Still alive, sire.’–‘Then go, and at noon strike him with a hundred spears.’ At noon they strike him with a hundred spears. Then in the evening the king asks: ‘Men, how’s that man?’–‘Still alive, sire.’ –‘Then go, and in the evening strike him with a hundred spears.’ In the evening they strike him with a hundred spears.
SC 12“What do you think, bhikkhus? Would that man, being struck with three hundred spears, experience pain and displeasure on that account?”
SC 13“Venerable sir, even if he were struck with one spear he would experience pain and displeasure on that account, not to speak of three hundred spears.”
SC 14“It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment consciousness should be seen. When the nutriment consciousness is fully understood, name-and-form is fully understood. When name-and-form is fully understood, I say, there is nothing further that a noble disciple needs to do.” sn.ii.101
Vi-n 1 Ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
Vi-n 3 Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.
Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: “Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại”.
Vi-n 8 Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: “Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?”
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
—Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.
Vi-n 15 Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.
Vi-n 17 Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: “Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.
Vi-n 19 Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?
Vi-n 20 Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: “Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn”. Vị vua nói như sau về người ấy: “Các ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng”. Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.
Vi-n 21 Rồi vị vua vào buổi trưa nói: “Này các ông, người ấy như thế nào?”—“Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các ông, các ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa”. Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.
Vi-n 22 Rồi vị vua vào buổi chiều nói: “Này các ông, người ấy như thế nào?”—“Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các ông, các ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều”.
Vi-n 23 Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?
—Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!
Vi-n 24 —Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.
Vi-n 25 Này các Tỷ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.
Sāvatthiyaṁ …
“cattārome, bhikkhave, āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā sambhavesīnaṁ vā anuggahāya.
Katame cattāro?
Kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ.
Ime kho, bhikkhave, cattāro āhārā bhūtānaṁ vā sattānaṁ ṭhitiyā sambhavesīnaṁ vā anuggahāya.
Kathañca, bhikkhave, kabaḷīkāro āhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, dve jāyampatikā parittaṁ sambalaṁ ādāya kantāramaggaṁ paṭipajjeyyuṁ.
Tesamassa ekaputtako piyo manāpo.
Atha kho tesaṁ, bhikkhave, dvinnaṁ jāyampatikānaṁ kantāragatānaṁ yā parittā sambalamattā, sā parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya.
Siyā ca nesaṁ kantārāvaseso anatiṇṇo.
Atha kho tesaṁ, bhikkhave, dvinnaṁ jāyampatikānaṁ evamassa:
‘amhākaṁ kho yā parittā sambalamattā sā parikkhīṇā pariyādiṇṇā.
Atthi cāyaṁ kantārāvaseso anittiṇṇo.
Yannūna mayaṁ imaṁ ekaputtakaṁ piyaṁ manāpaṁ vadhitvā vallūrañca soṇḍikañca karitvā puttamaṁsāni khādantā evaṁ taṁ kantārāvasesaṁ nitthareyyāma, mā sabbeva tayo vinassimhā’ti.
Atha kho te, bhikkhave, dve jāyampatikā taṁ ekaputtakaṁ piyaṁ manāpaṁ vadhitvā vallūrañca soṇḍikañca karitvā puttamaṁsāni khādantā evaṁ taṁ kantārāvasesaṁ nitthareyyuṁ.
Te puttamaṁsāni ceva khādeyyuṁ, ure ca paṭipiseyyuṁ:
‘kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu te davāya vā āhāraṁ āhāreyyuṁ, madāya vā āhāraṁ āhāreyyuṁ, maṇḍanāya vā āhāraṁ āhāreyyuṁ, vibhūsanāya vā āhāraṁ āhāreyyun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanu te, bhikkhave, yāvadeva kantārassa nittharaṇatthāya āhāraṁ āhāreyyun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, kabaḷīkāro āhāro daṭṭhabbo’ti vadāmi.
Kabaḷīkāre, bhikkhave, āhāre pariññāte pañca kāmaguṇiko rāgo pariññāto hoti.
Pañca kāmaguṇike rāge pariññāte natthi taṁ saṁyojanaṁ yena saṁyojanena saṁyutto ariyasāvako puna imaṁ lokaṁ āgaccheyya.
Kathañca, bhikkhave, phassāhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī niccammā kuṭṭañce nissāya tiṭṭheyya. Ye kuṭṭanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Rukkhañce nissāya tiṭṭheyya, ye rukkhanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Udakañce nissāya tiṭṭheyya, ye udakanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Ākāsañce nissāya tiṭṭheyya, ye ākāsanissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Yaṁ yadeva hi sā, bhikkhave, gāvī niccammā nissāya tiṭṭheyya, ye tannissitā pāṇā te naṁ khādeyyuṁ.
Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, ‘phassāhāro daṭṭhabbo’ti vadāmi.
Phasse, bhikkhave, āhāre pariññāte tisso vedanā pariññātā honti.
Tīsu vedanāsu pariññātāsu ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, manosañcetanāhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, aṅgārakāsu sādhikaporisā puṇṇā aṅgārānaṁ vītaccikānaṁ vītadhūmānaṁ.
Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Tamenaṁ dve balavanto purisā nānābāhāsu gahetvā taṁ aṅgārakāsuṁ upakaḍḍheyyuṁ.
Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa ārakāvassa cetanā ārakā patthanā ārakā paṇidhi.
Taṁ kissa hetu?
Evañhi, bhikkhave, tassa purisassa hoti:
‘imañcāhaṁ aṅgārakāsuṁ papatissāmi, tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchāmi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti.
Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, ‘manosañcetanāhāro daṭṭhabbo’ti vadāmi.
Manosañcetanāya, bhikkhave, āhāre pariññāte tisso taṇhā pariññātā honti.
Tīsu taṇhāsu pariññātāsu ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, viññāṇāhāro daṭṭhabbo?
Seyyathāpi, bhikkhave, coraṁ āgucāriṁ gahetvā rañño dasseyyuṁ:
‘ayaṁ te, deva, coro āgucārī, imassa yaṁ icchasi taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, imaṁ purisaṁ pubbaṇhasamayaṁ sattisatena hanathā’ti.
Tamenaṁ pubbaṇhasamayaṁ sattisatena haneyyuṁ.
Atha rājā majjhanhikasamayaṁ evaṁ vadeyya:
‘ambho, kathaṁ so puriso’ti?
‘Tatheva, deva, jīvatī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, taṁ purisaṁ majjhanhikasamayaṁ sattisatena hanathā’ti.
Tamenaṁ majjhanhikasamayaṁ sattisatena haneyyuṁ.
Atha rājā sāyanhasamayaṁ evaṁ vadeyya:
‘ambho, kathaṁ so puriso’ti?
‘Tatheva, deva, jīvatī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, taṁ purisaṁ sāyanhasamayaṁ sattisatena hanathā’ti.
Tamenaṁ sāyanhasamayaṁ sattisatena haneyyuṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so puriso divasaṁ tīhi sattisatehi haññamāno tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyethā”ti?
“Ekissāpi, bhante, sattiyā haññamāno tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyetha;
ko pana vādo tīhi sattisatehi haññamāno”ti.
“Evameva khvāhaṁ, bhikkhave, viññāṇāhāro daṭṭhabboti vadāmi.
Viññāṇe, bhikkhave, āhāre pariññāte nāmarūpaṁ pariññātaṁ hoti, nāmarūpe pariññāte ariyasāvakassa natthi kiñci uttarikaraṇīyanti vadāmī”ti.
Tatiyaṁ.