Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực.
Vi-n 3-10. … (Giống như kinh Pháp Môn 52)
Vi-n 11 —Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau: “Này chư Hiền, khi tâm thụ động (linam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời? Nhưng, này chư Hiền, trong khi tâm dao động (uddhatam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
Vi-n 12 Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
Phi Thời
Vi-n 13 —Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Vi-n 14 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt, để ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, khi tâm thụ động, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Phải Thời
Vi-n 15 —Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Vi-n 16 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa ấy không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Không Phải Thời
Vi-n 17 —Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật khó được tịnh chỉ do những pháp ấy.
Vi-n 18 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi khô, lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt đống lửa lớn ấy không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp ấy.
Phải Thời
Vi-n 19 —Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động thật dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp này.
Vi-n 20 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò ướt, ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật dễ được tịnh chỉ nhờ các pháp này.
Vi-n 21 Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisiṁsu.
(Pariyāyasuttasadisaṁ.)
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘yasmiṁ, āvuso, samaye līnaṁ cittaṁ hoti, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ akālo bhāvanāya, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ kālo bhāvanāya?
Yasmiṁ panāvuso, samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ akālo bhāvanāya, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ kālo bhāvanāyā’ti?
Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttariñca vighātaṁ āpajjissanti.
Taṁ kissa hetu?
Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ.
Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvā.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye līnaṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi dussamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletukāmo assa.
So tattha allāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, allāni ca gomayāni pakkhipeyya, allāni ca kaṭṭhāni pakkhipeyya, udakavātañca dadeyya, paṁsukena ca okireyya;
bhabbo nu kho so puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye līnaṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi dussamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Yasmiñca kho, bhikkhave, samaye līnaṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi susamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletukāmo assa.
So tattha sukkhāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, sukkhāni gomayāni pakkhipeyya, sukkhāni kaṭṭhāni pakkhipeyya, mukhavātañca dadeyya, na ca paṁsukena okireyya;
bhabbo nu kho so puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye līnaṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi susamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi duvūpasamayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetukāmo assa.
So tattha sukkhāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, sukkhāni ca gomayāni pakkhipeyya, sukkhāni ca kaṭṭhāni pakkhipeyya, mukhavātañca dadeyya, na ca paṁsukena okireyya;
bhabbo nu kho so puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi duvūpasamayaṁ hoti.
Yasmiñca kho, bhikkhave, samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi suvūpasamayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetukāmo assa.
So tattha allāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, allāni ca gomayāni pakkhipeyya, allāni ca kaṭṭhāni pakkhipeyya, udakavātañca dadeyya, paṁsukena ca okireyya;
bhabbo nu kho so puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi suvūpasamayaṁ hoti.
Satiñca khvāhaṁ, bhikkhave, sabbatthikaṁ vadāmī”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1Then, in the morning, a number of bhikkhus dressed and, taking their bowls and robes, entered Savatthī for alms … as in §52 down to: … The Blessed One said:
SC 2“Bhikkhus, when wanderers of other sects speak thus, they should be asked: ‘Friends, when the mind becomes sluggish, which factors of enlightenment is it untimely to develop on that occasion, and which factors of enlightenment is it timely to develop on that occasion? Then, friends, when the mind becomes excited, which factors of enlightenment is it untimely to develop on that occasion, and which factors of enlightenment is it timely to develop on that occasion?’ Being asked thus, those wanderers would not be able to reply and, further, they would meet with vexation. For what reason? Because that would not be within their domain. I do not see anyone, bhikkhus, in this world with its devas, Mara, and Brahma, in this generation with its ascetics and brahmins, its devas and humans, who could satisfy the mind with an answer to these questions except the Tathagata or a disciple of the Tathagata or one who has heard it from them.
i. The sluggish mind: untimely
SC 3“On an occasion, bhikkhus, when the mind becomes sluggish, it is untimely to develop the enlightenment factor of tranquillity, the enlightenment factor of concentration, and the enlightenment factor of equanimity. For what reason? Because the mind is sluggish, bhikkhus, and it is difficult to arouse it with those things.
SC 4“Suppose, bhikkhus, a man wants to make a small fire flare up. If he throws wet grass, wet cowdung, and wet timber into it, sn.v.113 sprays it with water, and scatters soil over it, would he be able to make that small fire flare up?”
“No, venerable sir.”
SC 5“So too, bhikkhus, on an occasion when the mind becomes sluggish, it is untimely to develop the enlightenment factor of tranquillity, the enlightenment factor of concentration, and the enlightenment factor of equanimity. For what reason? Because the mind is sluggish, bhikkhus, and it is difficult to arouse it with those things.
ii. The sluggish mind: timely
SC 6“On an occasion, bhikkhus, when the mind becomes sluggish, it is timely to develop the enlightenment factor of discrimination of states, the enlightenment factor of energy, and the enlightenment factor of rapture. For what reason? Because the mind is sluggish, bhikkhus, and it is easy to arouse it with those things.
SC 7“Suppose, bhikkhus, a man wants to make a small fire flare up. If he throws dry grass, dry cowdung, and dry timber into it, blows on it, and does not scatter soil over it, would he be able to make that small fire flare up?”
“Yes, venerable sir.”
SC 8“So too, bhikkhus, on an occasion when the mind becomes sluggish, it is timely to develop the enlightenment factor of discrimination of states, the enlightenment factor of energy, and the enlightenment factor of rapture. For what reason? Because the mind is sluggish, bhikkhus, and it is easy to arouse it with those things.
iii. The excited mind: untimely
SC 9“On an occasion, bhikkhus, when the mind becomes excited, it is untimely to develop the enlightenment factor of discrimination of states, the enlightenment factor of energy, sn.v.114 and the enlightenment factor of rapture. For what reason? Because the mind is excited, bhikkhus, and it is difficult to calm it down with those things.
SC 10“Suppose, bhikkhus, a man wants to extinguish a great bonfire. If he throws dry grass, dry cowdung, and dry timber into it, blows on it, and does not scatter soil over it, would he be able to extinguish that great bonfire?”
“No, venerable sir.”
SC 11“So too, bhikkhus, on an occasion when the mind becomes excited, it is untimely to develop the enlightenment factor of discrimination of states, the enlightenment factor of energy, and the enlightenment factor of rapture. For what reason? Because the mind is excited, bhikkhus, and it is difficult to calm it down with those things.
iv. The excited mind: timely
SC 12“On an occasion, bhikkhus, when the mind becomes excited, it is timely to develop the enlightenment factor of tranquillity, the enlightenment factor of concentration, and the enlightenment factor of equanimity. For what reason? Because the mind is excited, bhikkhus, and it is easy to calm it down with those things.
SC 13“Suppose, bhikkhus, a man wants to extinguish a great bonfire. If he throws wet grass, wet cowdung, and wet timber into it, sprays it with water, and scatters soil over it, would he be able to extinguish that great bonfire?”
“Yes, venerable sir.”
SC 14“So too, bhikkhus, on an occasion when the mind becomes excited, sn.v.115 it is timely to develop the enlightenment factor of tranquillity, the enlightenment factor of concentration, and the enlightenment factor of equanimity. For what reason? Because the mind is excited, bhikkhus, and it is easy to calm it down with those things.
SC 15“But mindfulness, bhikkhus, I say is always useful.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực.
Vi-n 3-10. … (Giống như kinh Pháp Môn 52)
Vi-n 11 —Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau: “Này chư Hiền, khi tâm thụ động (linam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời? Nhưng, này chư Hiền, trong khi tâm dao động (uddhatam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
Vi-n 12 Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
Phi Thời
Vi-n 13 —Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Vi-n 14 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt, để ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, khi tâm thụ động, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Phải Thời
Vi-n 15 —Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Vi-n 16 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa ấy không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
Không Phải Thời
Vi-n 17 —Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật khó được tịnh chỉ do những pháp ấy.
Vi-n 18 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi khô, lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt đống lửa lớn ấy không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp ấy.
Phải Thời
Vi-n 19 —Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động thật dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp này.
Vi-n 20 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò ướt, ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật dễ được tịnh chỉ nhờ các pháp này.
Vi-n 21 Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisiṁsu.
(Pariyāyasuttasadisaṁ.)
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘yasmiṁ, āvuso, samaye līnaṁ cittaṁ hoti, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ akālo bhāvanāya, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ kālo bhāvanāya?
Yasmiṁ panāvuso, samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ akālo bhāvanāya, katamesaṁ tasmiṁ samaye bojjhaṅgānaṁ kālo bhāvanāyā’ti?
Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttariñca vighātaṁ āpajjissanti.
Taṁ kissa hetu?
Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ.
Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvā.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye līnaṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi dussamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletukāmo assa.
So tattha allāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, allāni ca gomayāni pakkhipeyya, allāni ca kaṭṭhāni pakkhipeyya, udakavātañca dadeyya, paṁsukena ca okireyya;
bhabbo nu kho so puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye līnaṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi dussamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Yasmiñca kho, bhikkhave, samaye līnaṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi susamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletukāmo assa.
So tattha sukkhāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, sukkhāni gomayāni pakkhipeyya, sukkhāni kaṭṭhāni pakkhipeyya, mukhavātañca dadeyya, na ca paṁsukena okireyya;
bhabbo nu kho so puriso parittaṁ aggiṁ ujjāletun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye līnaṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Līnaṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi susamuṭṭhāpayaṁ hoti.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi duvūpasamayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetukāmo assa.
So tattha sukkhāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, sukkhāni ca gomayāni pakkhipeyya, sukkhāni ca kaṭṭhāni pakkhipeyya, mukhavātañca dadeyya, na ca paṁsukena okireyya;
bhabbo nu kho so puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, akālo tasmiṁ samaye dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya, akālo pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi duvūpasamayaṁ hoti.
Yasmiñca kho, bhikkhave, samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi suvūpasamayaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetukāmo assa.
So tattha allāni ceva tiṇāni pakkhipeyya, allāni ca gomayāni pakkhipeyya, allāni ca kaṭṭhāni pakkhipeyya, udakavātañca dadeyya, paṁsukena ca okireyya;
bhabbo nu kho so puriso mahantaṁ aggikkhandhaṁ nibbāpetun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye uddhataṁ cittaṁ hoti, kālo tasmiṁ samaye passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya, kālo upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya.
Taṁ kissa hetu?
Uddhataṁ, bhikkhave, cittaṁ taṁ etehi dhammehi suvūpasamayaṁ hoti.
Satiñca khvāhaṁ, bhikkhave, sabbatthikaṁ vadāmī”ti.
Tatiyaṁ.