Vi-n 1 Một thời Tôn giả Godatta trú ở Macchikàsanda, tại Ambàtavana.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Godatta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Godatta rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Tôn giả Godatta nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:
—Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát, vô tướng tâm giải thoát, những pháp này là khác ngôn từ, hay đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ?
—Bạch Thượng tọa, có pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp này khác nghĩa, khác ngôn từ. Bạch Thượng tọa, cũng có pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp này đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ.
Vi-n 4 —Nhưng, này Gia chủ, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ?
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu với hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô lượng tâm giải thoát.
Vi-n 6 Và bạch Thượng tọa, như thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, Tỷ-kheo vượt lên Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô sở hữu tâm giải thoát.
Vi-n 7 Và bạch Thượng tọa, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống và suy tư: “Cái này là trống không tự ngã hay ngã sở hữu”. Bạch Thượng tọa, đây gọi là không tâm giải thoát.
Vi-n 8 Và bạch Thượng tọa, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô tướng tâm giải thoát.
Vi-n 9 Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, theo pháp môn ấy, các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ.
Vi-n 10 Và bạch Thượng tọa, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?
Vi-n 11 Tham dục (ràga) làm sự đo lường, sân làm sự đo lường, si làm sự đo lường. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối các vô lượng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.
Vi-n 12 Tham dục, bạch Thượng tọa, là một chướng ngại, sân là một chướng ngại, si là một chướng ngại. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối với các vô sở hữu tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này được trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.
Vi-n 13 Tham dục, bạch Thượng tọa, tác thành tướng, sân tác thành tướng, si tác thành tướng. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt đứt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối với các vô tướng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.
Vi-n 14 Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, do pháp môn ấy, các pháp này là đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā godatto macchikāsaṇḍe viharati ambāṭakavane.
Atha kho citto gahapati yenāyasmā godatto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ godattaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cittaṁ gahapatiṁ āyasmā godatto etadavoca:
“yā cāyaṁ, gahapati, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti, ime dhammā nānatthā nānābyañjanā udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
“Atthi, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca.
Atthi pana, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
“Katamo ca, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca?
Idha, bhante, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Ayaṁ vuccati, bhante, appamāṇā cetovimutti.
Katamā ca, bhante, ākiñcaññā cetovimutti?
Idha, bhante, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, bhante, ākiñcaññā cetovimutti.
Katamā ca, bhante, suññatā cetovimutti?
Idha, bhante, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
Ayaṁ vuccati, bhante, suññatā cetovimutti.
Katamā ca, bhante, animittā cetovimutti?
Idha, bhante, bhikkhu sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, bhante, animittā cetovimutti.
Ayaṁ kho, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca.
Katamo ca, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānaṁ?
Rāgo, bhante, pamāṇakaraṇo, doso pamāṇakaraṇo, moho pamāṇakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, bhante, appamāṇā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho pana akuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, bhante, kiñcanaṁ, doso kiñcanaṁ, moho kiñcanaṁ.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, bhante, ākiñcaññā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho pana akuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, bhante, nimittakaraṇo, doso nimittakaraṇo, moho nimittakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, bhante, animittā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho pana akuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Ayaṁ kho, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
“Lābhā te, gahapati, suladdhaṁ te, gahapati.
Yassa te gambhīre buddhavacane paññācakkhu kamatī”ti.
Sattamaṁ.
At one time Venerable Godatta was staying near Macchikāsaṇḍa in the Wild Mango Grove.
Then Citta the householder went up to Venerable Godatta, bowed, and sat down to one side. Godatta said to him:
“Householder, the limitless release of the heart, and the release of the heart through nothingness, and the release of the heart through emptiness, and the signless release of the heart: do these things differ in both meaning and phrasing? Or do they mean the same thing, and differ only in the phrasing?”
“Sir, there is a way in which these things differ in both meaning and phrasing.
But there’s also a way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing.
And what’s the way in which these things differ in both meaning and phrasing?
It’s when a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
They meditate spreading a heart full of compassion …
They meditate spreading a heart full of rejoicing …
They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
This is called the limitless release of the heart.
And what is the release of the heart through nothingness?
It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness.
This is called the release of the heart through nothingness.
And what is the release of the heart through emptiness?
It’s when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this:
‘This is empty of a self or what belongs to a self.’
This is called the release of the heart through emptiness.
And what is the signless heart’s release?
It’s when a mendicant, not focusing on any signs, enters and remains in the signless immersion of the heart.
This is called the signless release of the heart.
This is the way in which these things differ in both meaning and phrasing.
And what’s the way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing?
Greed, hate, and delusion are makers of limits.
A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future.
The unshakable release of the heart is said to be the best kind of limitless release of the heart.
That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
Greed is something, hate is something, and delusion is something.
A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future.
The unshakable release of the heart is said to be the best kind of release of the heart through nothingness.
That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
Greed, hate, and delusion are makers of signs.
A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future.
The unshakable release of the heart is said to be the best kind of signless release of the heart.
That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
This is the way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing.”
“You’re fortunate, householder, so very fortunate,
to traverse the Buddha’s deep teachings with the eye of wisdom.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Godatta trú ở Macchikàsanda, tại Ambàtavana.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Godatta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Godatta rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Tôn giả Godatta nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:
—Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát, vô tướng tâm giải thoát, những pháp này là khác ngôn từ, hay đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ?
—Bạch Thượng tọa, có pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp này khác nghĩa, khác ngôn từ. Bạch Thượng tọa, cũng có pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp này đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ.
Vi-n 4 —Nhưng, này Gia chủ, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ?
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu với hỷ … an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô lượng tâm giải thoát.
Vi-n 6 Và bạch Thượng tọa, như thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, Tỷ-kheo vượt lên Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô sở hữu tâm giải thoát.
Vi-n 7 Và bạch Thượng tọa, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống và suy tư: “Cái này là trống không tự ngã hay ngã sở hữu”. Bạch Thượng tọa, đây gọi là không tâm giải thoát.
Vi-n 8 Và bạch Thượng tọa, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô tướng tâm giải thoát.
Vi-n 9 Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, theo pháp môn ấy, các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ.
Vi-n 10 Và bạch Thượng tọa, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?
Vi-n 11 Tham dục (ràga) làm sự đo lường, sân làm sự đo lường, si làm sự đo lường. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối các vô lượng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.
Vi-n 12 Tham dục, bạch Thượng tọa, là một chướng ngại, sân là một chướng ngại, si là một chướng ngại. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối với các vô sở hữu tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này được trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.
Vi-n 13 Tham dục, bạch Thượng tọa, tác thành tướng, sân tác thành tướng, si tác thành tướng. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt đứt tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối với các vô tướng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống không, không có tham; trống không, không có sân; trống không, không có si.
Vi-n 14 Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, do pháp môn ấy, các pháp này là đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā godatto macchikāsaṇḍe viharati ambāṭakavane.
Atha kho citto gahapati yenāyasmā godatto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ godattaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cittaṁ gahapatiṁ āyasmā godatto etadavoca:
“yā cāyaṁ, gahapati, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti, ime dhammā nānatthā nānābyañjanā udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
“Atthi, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca.
Atthi pana, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
“Katamo ca, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca?
Idha, bhante, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Ayaṁ vuccati, bhante, appamāṇā cetovimutti.
Katamā ca, bhante, ākiñcaññā cetovimutti?
Idha, bhante, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, bhante, ākiñcaññā cetovimutti.
Katamā ca, bhante, suññatā cetovimutti?
Idha, bhante, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
Ayaṁ vuccati, bhante, suññatā cetovimutti.
Katamā ca, bhante, animittā cetovimutti?
Idha, bhante, bhikkhu sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, bhante, animittā cetovimutti.
Ayaṁ kho, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca.
Katamo ca, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānaṁ?
Rāgo, bhante, pamāṇakaraṇo, doso pamāṇakaraṇo, moho pamāṇakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, bhante, appamāṇā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho pana akuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, bhante, kiñcanaṁ, doso kiñcanaṁ, moho kiñcanaṁ.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, bhante, ākiñcaññā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho pana akuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Rāgo kho, bhante, nimittakaraṇo, doso nimittakaraṇo, moho nimittakaraṇo.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Yāvatā kho, bhante, animittā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
Sā kho pana akuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
Ayaṁ kho, bhante, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
“Lābhā te, gahapati, suladdhaṁ te, gahapati.
Yassa te gambhīre buddhavacane paññācakkhu kamatī”ti.
Sattamaṁ.