Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y … và ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Vi-n 2 Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà sợ hãi … muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Vijayà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Vijayà:
Nàng vừa trẻ, vừa đẹp,
Ta vừa trẻ, vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Nàng cùng ta vui hưởng.
Vi-n 3 Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: ” Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”
Vi-n 4 Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: ” Ðây là Ác ma … nói lên bài kệ đó.”
Vi-n 5 Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,
Làm cho ý đam mê,
Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.
Họ sanh hưởng sắc giới,
Chúng vọng vô sắc giới,
Thiền chứng an tịnh ấy,
Mọi nơi, mê ám diệt.
Vi-n 6 Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Aijayà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho vijayā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā …pe…
aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho māro pāpimā vijayāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena vijayā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vijayaṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Daharā tvaṁ rūpavatī,
ahañca daharo susu;
Pañcaṅgikena turiyena,
ehayyebhiramāmase”ti.
Atha kho vijayāya bhikkhuniyā etadahosi:
“ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?
Atha kho vijayāya bhikkhuniyā etadahosi:
“māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.
Atha kho vijayā bhikkhunī “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi paccabhāsi:
“Rūpā saddā rasā gandhā,
phoṭṭhabbā ca manoramā;
Niyyātayāmi tuyheva,
māra nāhaṁ tenatthikā.
Iminā pūtikāyena,
bhindanena pabhaṅgunā;
Aṭṭīyāmi harāyāmi,
kāmataṇhā samūhatā.
Ye ca rūpūpagā sattā,
ye ca arūpaṭṭhāyino;
Yā ca santā samāpatti,
sabbattha vihato tamo”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ vijayā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
SC 1At Savatthi. Then, in the morning, the bhikkhuni Vijaya dressed … she sat down at the foot of a tree for the day’s abiding.
SC 2Then Mara the Evil One, desiring to arouse fear, trepidation, and terror in the bhikkhuni Vijaya, desiring to make her fall away from concentration, approached her and addressed her in verse: sn.i.131
SC 3 “You are so young and beautiful,
And I too am a youth in my prime.
Come, noble lady, let us rejoice
With the music of a fivefold ensemble.”
SC 4Then it occurred to the bhikkhuni Vijaya: “Now who is this…? This is Mara the Evil One … desiring to make me fall away from concentration.”
SC 5Then the bhikkhuni Vijaya, having understood, “This is Mara the Evil One,” replied to him in verses:
SC 6 “Forms, sounds, tastes, odours,
And delightful tactile objects—
I offer them right back to you,
For I, O Mara, do not need them.
SC 7 “I am repelled and humiliated
By this foul, putrid body,
Subject to break up, fragile:
I’ve uprooted sensual craving.
SC 8 “As to those beings who fare amidst form,
And those who abide in the formless,
And those peaceful attainments too:
Everywhere darkness has been destroyed.”
SC 9Then Mara the Evil One, realizing “The bhikkhuni Vijaya knows me,” sad and disappointed, disappeared right there.
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vijayà vào buổi sáng đắp y … và ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Vi-n 2 Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà sợ hãi … muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Vijayà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Vijayà:
Nàng vừa trẻ, vừa đẹp,
Ta vừa trẻ, vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Nàng cùng ta vui hưởng.
Vi-n 3 Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: ” Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”
Vi-n 4 Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: ” Ðây là Ác ma … nói lên bài kệ đó.”
Vi-n 5 Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,
Làm cho ý đam mê,
Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.
Họ sanh hưởng sắc giới,
Chúng vọng vô sắc giới,
Thiền chứng an tịnh ấy,
Mọi nơi, mê ám diệt.
Vi-n 6 Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Aijayà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho vijayā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā …pe…
aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho māro pāpimā vijayāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena vijayā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vijayaṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Daharā tvaṁ rūpavatī,
ahañca daharo susu;
Pañcaṅgikena turiyena,
ehayyebhiramāmase”ti.
Atha kho vijayāya bhikkhuniyā etadahosi:
“ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?
Atha kho vijayāya bhikkhuniyā etadahosi:
“māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.
Atha kho vijayā bhikkhunī “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi paccabhāsi:
“Rūpā saddā rasā gandhā,
phoṭṭhabbā ca manoramā;
Niyyātayāmi tuyheva,
māra nāhaṁ tenatthikā.
Iminā pūtikāyena,
bhindanena pabhaṅgunā;
Aṭṭīyāmi harāyāmi,
kāmataṇhā samūhatā.
Ye ca rūpūpagā sattā,
ye ca arūpaṭṭhāyino;
Yā ca santā samāpatti,
sabbattha vihato tamo”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ vijayā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.