Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, do có mặt cái gì, do chấp thủ cái gì khởi lên nội lạc, nội khổ?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, do mắt có mặt, do chấp thủ mắt nên khởi lên nội lạc, nội khổ … tai … mũi … lưỡi … thân … Do ý có mặt, do chấp thủ ý nên khởi lên nội lạc, nội khổ.
Vi-n 5 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy thời có thể khởi lên nội khổ, nội lạc không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 6 —Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati kiṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe….
“Cakkhusmiṁ kho, bhikkhave, sati cakkhuṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhaṁ …pe…
manasmiṁ sati manaṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“No hetaṁ, bhante” …pe….
“Jivhā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“No hetaṁ, bhante” …pe….
“Mano nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, when what exists, by clinging to what, do pleasure and pain arise internally?”
SC 2“Venerable sir, our teachings are rooted in the Blessed One….”
SC 3“When there is the eye, bhikkhus, by clinging to the eye, pleasure and pain arise internally. When there is the ear … the mind, by clinging to the mind, pleasure and pain arise internally.
SC 4“What do you think, bhikkhus, is the eye permanent or impermanent?”
“Impermanent, venerable sir.”
“Is what is impermanent suffering or happiness?”
“Suffering, venerable sir.”
SC 5“But without clinging to what is impermanent, suffering, and subject to change, could pleasure and pain arise internally?”
“No, venerable sir.” sn.iv.86
SC 6“Is the ear … the mind permanent or impermanent?… But without clinging to what is impermanent, suffering, and subject to change, could pleasure and pain arise internally?”
“No, venerable sir.”
SC 7“Seeing thus, bhikkhus, the instructed noble disciple experiences revulsion towards the eye … the mind. Experiencing revulsion, he becomes dispassionate. Through dispassion his mind is liberated. When it is liberated there comes the knowledge: ‘It’s liberated.’ He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, do có mặt cái gì, do chấp thủ cái gì khởi lên nội lạc, nội khổ?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, do mắt có mặt, do chấp thủ mắt nên khởi lên nội lạc, nội khổ … tai … mũi … lưỡi … thân … Do ý có mặt, do chấp thủ ý nên khởi lên nội lạc, nội khổ.
Vi-n 5 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy thời có thể khởi lên nội khổ, nội lạc không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 6 —Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati kiṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe….
“Cakkhusmiṁ kho, bhikkhave, sati cakkhuṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhaṁ …pe…
manasmiṁ sati manaṁ upādāya uppajjati ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhaṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“No hetaṁ, bhante” …pe….
“Jivhā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“No hetaṁ, bhante” …pe….
“Mano nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṁ sukhaṁ dukkhan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.