Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Chúng sanh, chúng sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
Vi-n 4 —Này Rādha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh (sattà).
Vi-n 5-7. … thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 8 Dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
Vi-n 9 Ví như, này Rādha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Vi-n 10 Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Vi-n 11 Cũng vậy, này Rādha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
Vi-n 12-14. … thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 15 … Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
Vi-n 16 Ðoạn diệt khát ái, này Rādha, là Niết-bàn.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṁ etadavoca:
“‘satto, satto’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sattoti vuccatī”ti?
“Rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati.
Vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇe yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati.
Seyyathāpi, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā paṁsvāgārakehi kīḷanti.
Yāvakīvañca tesu paṁsvāgārakesu avigatarāgā honti avigatacchandā avigatapemā avigatapipāsā avigatapariḷāhā avigatataṇhā, tāva tāni paṁsvāgārakāni allīyanti keḷāyanti dhanāyanti mamāyanti.
Yato ca kho, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā tesu paṁsvāgārakesu vigatarāgā honti vigatacchandā vigatapemā vigatapipāsā vigatapariḷāhā vigatataṇhā, atha kho tāni paṁsvāgārakāni hatthehi ca pādehi ca vikiranti vidhamanti viddhaṁsenti vikīḷaniyaṁ karonti.
Evameva kho, rādha, tumhepi rūpaṁ vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Vedanaṁ vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Saññaṁ …
saṅkhāre vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Viññāṇaṁ vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Taṇhākkhayo hi, rādha, nibbānan”ti.
Dutiyaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, Venerable Rādha said to the Buddha:
“Sir, they speak of this thing called a ‘sentient being’.
How is a sentient being defined?”
“Rādha, when you cling, strongly cling, to desire, greed, relishing, and craving for form, then a being is spoken of.
When you cling, strongly cling, to desire, greed, relishing, and craving for feeling …
perception …
choices …
consciousness, then a being is spoken of.
Suppose some boys or girls were playing with sandcastles.
As long as they’re not rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for those sandcastles, they cling to them, dally with them, treasure them, and treat them as their own.
But when they are rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for those sandcastles, they scatter, smash, and destroy them with their hands and feet, making them unplayable.
In the same way, you should scatter, smash, and destroy form, making it unplayable. And you should practice for the ending of craving.
You should scatter, smash, and destroy feeling …
perception …
choices …
consciousness, making it unplayable. And you should practice for the ending of craving.
For the ending of craving is extinguishment.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Chúng sanh, chúng sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
Vi-n 4 —Này Rādha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh (sattà).
Vi-n 5-7. … thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 8 Dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
Vi-n 9 Ví như, này Rādha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Vi-n 10 Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Vi-n 11 Cũng vậy, này Rādha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
Vi-n 12-14. … thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 15 … Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
Vi-n 16 Ðoạn diệt khát ái, này Rādha, là Niết-bàn.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṁ etadavoca:
“‘satto, satto’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sattoti vuccatī”ti?
“Rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati.
Vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇe yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra satto, tatra visatto, tasmā sattoti vuccati.
Seyyathāpi, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā paṁsvāgārakehi kīḷanti.
Yāvakīvañca tesu paṁsvāgārakesu avigatarāgā honti avigatacchandā avigatapemā avigatapipāsā avigatapariḷāhā avigatataṇhā, tāva tāni paṁsvāgārakāni allīyanti keḷāyanti dhanāyanti mamāyanti.
Yato ca kho, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā tesu paṁsvāgārakesu vigatarāgā honti vigatacchandā vigatapemā vigatapipāsā vigatapariḷāhā vigatataṇhā, atha kho tāni paṁsvāgārakāni hatthehi ca pādehi ca vikiranti vidhamanti viddhaṁsenti vikīḷaniyaṁ karonti.
Evameva kho, rādha, tumhepi rūpaṁ vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Vedanaṁ vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Saññaṁ …
saṅkhāre vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Viññāṇaṁ vikiratha vidhamatha viddhaṁsetha vikīḷaniyaṁ karotha taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
Taṇhākkhayo hi, rādha, nibbānan”ti.
Dutiyaṁ.