Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế giới có phải là thường còn?
—Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Thế giới là thường còn.”.
Vi-n 4-11.… (như trên) …
Vi-n 12 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 13 —Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 14 —Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ như là tự ngã … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 15 Như Lai, này Vaccha, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, hay sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ không phải tự ngã … quán tưởng … quán các hành … quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có thức, hay thức không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 16 Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallāna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 17 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là thường còn?
—Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là thường còn”.
Vi-n 18-26.… (như trên) …
Vi-n 27 —Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 28 —Thưa Tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Moggallāna, Sa-môn Gotama khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 29 —Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 30 Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, quán sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 31 —Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Moggallāna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Vi-n 32 Thưa Tôn giả Moggallāna, nay tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến tôi hỏi về ý nghĩa này. Sa-môn Gotama với những câu văn, với những lời văn đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Moggallāna. Thật vi diệu thay, Tôn giả Moggallāna! Thật hy hữu thay, Tôn giả Moggallāna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, mayā: ‘sassato loko’ti …pe….
“Kiṁ pana, bho gotama, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?
“Etampi kho, vaccha, abyākataṁ mayā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā?
Ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena bhoto gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti?
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṁ attato samanupassanti, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ attato samanupassanti …pe…
saññaṁ …pe…
saṅkhāre …pe…
viññāṇaṁ attato samanupassanti, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Na vedanaṁ attato samanupassati …pe…
na saññaṁ …pe…
na saṅkhāre …pe…
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti.
Atha kho vacchagotto paribbājako uṭṭhāyāsanā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho moggallāna, sassato loko”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘sassato loko’ti …pe….
“Kiṁ pana, bho moggallāna, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?
“Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Ko nu kho, bho moggallāna, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā?
Ko pana, bho moggallāna, hetu, ko paccayo yena samaṇassa gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti?
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṁ attato samanupassanti, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ attato samanupassanti …pe…
saññaṁ …pe…
saṅkhāre …pe…
viññāṇaṁ attato samanupassanti, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Na vedanaṁ attato samanupassati …pe…
na saññaṁ …pe…
na saṅkhāre …pe…
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi, ‘asassato loko’tipi, ‘antavā loko’tipi, ‘anantavā loko’tipi, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’tipi, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’tipi, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti.
“Acchariyaṁ, bho moggallāna, abbhutaṁ, bho moggallāna.
Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati, samessati, na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmiṁ.
Idānāhaṁ, bho moggallāna, samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ apucchiṁ.
Samaṇopi me gotamo etehi padehi etehi byañjanehi etamatthaṁ byākāsi, seyyathāpi bhavaṁ moggallāno.
Acchariyaṁ, bho moggallāna, abbhutaṁ, bho moggallāna.
Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmin”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1Then the wanderer Vacchagotta approached the Blessed One and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:
SC 2“How is it, Master Gotama, is the world eternal?”… as above …
SC 3“What, Master Gotama, is the cause and reason why, when wanderers of other sects are asked such questions, they give such answers as: ‘The world is eternal’ … or ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’ And what is the cause and reason why, when Master Gotama is asked such questions, he does not give such answers?”
SC 4“Vaccha, wanderers of other sects regard form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. They regard feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness. Therefore, sn.iv.396 when the wanderers of other sects are asked such questions, they give such answers as: ‘The world is eternal’ … or ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’ But, Vaccha, the Tathagata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, does not regard form as self … or self as in consciousness. Therefore, when the Tathagata is asked such questions, he does not give such answers.”
SC 5Then the wanderer Vacchagotta rose from his seat and approached the Venerable Mahamoggallana. He exchanged greetings with the Venerable Mahamoggallana … and said to him:
SC 6“How is it, Master Moggallana, is the world eternal?”
All as above down to:
SC 7“Vaccha, the Blessed One has not declared this either: ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’”
SC 8“What, Master Moggallana, is the cause and reason why, when wanderers of other sects are asked such questions, they give such answers as: ‘The world is eternal’ … or ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death’? And what is the cause and reason why when the ascetic Gotama is asked such questions, he does not give such answers?” sn.iv.397
SC 9“Vaccha, wanderers of other sects regard form as self … or self as in consciousness. Therefore, when the wanderers of other sects are asked such questions, they give such answers as: ‘The world is eternal’ … or ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’ But, Vaccha, the Tathagata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, does not regard form as self … or self as in consciousness. Therefore, when the Tathagata is asked such questions, he does not give such answers.”
SC 10“It is wonderful, Master Moggallana! It is amazing, Master Moggallana! How the meaning and the phrasing of both teacher and disciple coincide and agree with each other and do not diverge, that is, in regard to the chief matter. Just now, Master Moggallana, I approached the ascetic Gotama and asked him about this matter. The ascetic Gotama explained this matter to me in exactly the same terms and phrases that Master Moggallana used. It is wonderful, Master Moggallana! It is amazing, Master Moggallana! How the meaning and the phrasing of both teacher and disciple coincide and agree with each other and do not diverge, that is, in regard to the chief matter.” sn.iv.398
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế giới có phải là thường còn?
—Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Thế giới là thường còn.”.
Vi-n 4-11.… (như trên) …
Vi-n 12 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 13 —Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 14 —Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ như là tự ngã … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 15 Như Lai, này Vaccha, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, hay sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ không phải tự ngã … quán tưởng … quán các hành … quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có thức, hay thức không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 16 Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallāna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 17 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là thường còn?
—Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là thường còn”.
Vi-n 18-26.… (như trên) …
Vi-n 27 —Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 28 —Thưa Tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Moggallāna, Sa-môn Gotama khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 29 —Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 30 Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, quán sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 31 —Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Moggallāna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Vi-n 32 Thưa Tôn giả Moggallāna, nay tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến tôi hỏi về ý nghĩa này. Sa-môn Gotama với những câu văn, với những lời văn đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Moggallāna. Thật vi diệu thay, Tôn giả Moggallāna! Thật hy hữu thay, Tôn giả Moggallāna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, mayā: ‘sassato loko’ti …pe….
“Kiṁ pana, bho gotama, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?
“Etampi kho, vaccha, abyākataṁ mayā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā?
Ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena bhoto gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti?
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṁ attato samanupassanti, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ attato samanupassanti …pe…
saññaṁ …pe…
saṅkhāre …pe…
viññāṇaṁ attato samanupassanti, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Na vedanaṁ attato samanupassati …pe…
na saññaṁ …pe…
na saṅkhāre …pe…
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti.
Atha kho vacchagotto paribbājako uṭṭhāyāsanā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho moggallāna, sassato loko”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘sassato loko’ti …pe….
“Kiṁ pana, bho moggallāna, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?
“Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Ko nu kho, bho moggallāna, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā?
Ko pana, bho moggallāna, hetu, ko paccayo yena samaṇassa gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti?
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṁ attato samanupassanti, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ attato samanupassanti …pe…
saññaṁ …pe…
saṅkhāre …pe…
viññāṇaṁ attato samanupassanti, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Na vedanaṁ attato samanupassati …pe…
na saññaṁ …pe…
na saṅkhāre …pe…
na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti:
‘sassato loko’tipi, ‘asassato loko’tipi, ‘antavā loko’tipi, ‘anantavā loko’tipi, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’tipi, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’tipi, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti.
“Acchariyaṁ, bho moggallāna, abbhutaṁ, bho moggallāna.
Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati, samessati, na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmiṁ.
Idānāhaṁ, bho moggallāna, samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ apucchiṁ.
Samaṇopi me gotamo etehi padehi etehi byañjanehi etamatthaṁ byākāsi, seyyathāpi bhavaṁ moggallāno.
Acchariyaṁ, bho moggallāna, abbhutaṁ, bho moggallāna.
Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmin”ti.
Aṭṭhamaṁ.