Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Uddaka Rāmaputta, này các Tỷ-kheo, có nói như sau:
“Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào”.
Này các Tỷ-kheo, Uddaka Rāmaputta không phải bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả”; không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia, chưa từng đào.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo minh trí (vedagù)? Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo minh trí.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả? Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn trước kia chưa được đào? Mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là một danh từ chỉ cho cái thân do bốn đại tạo thành này, sanh ra từ cha mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, tự tánh là vô thường, biến hoại, mai một, hủy hoại, hủy diệt. Gốc rễ của mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với khát ái. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận khát ái, chặt đứt đến gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương lai; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn từ trước chưa được đào lên.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, chính là Uddaka Rāmaputta đã nói lên lời nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.
Này các Tỷ-kheo, Uddaka không phải là bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả”; không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.
Vi-n 8 Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.
“Udako sudaṁ, bhikkhave, rāmaputto evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, udako rāmaputto avedagūyeva samāno ‘vedagūsmī’ti bhāsati, asabbajīyeva samāno ‘sabbajīsmī’ti bhāsati, apalikhataṁyeva gaṇḍamūlaṁ ‘palikhataṁ me gaṇḍamūlan’ti bhāsati.
Idha kho taṁ, bhikkhave, bhikkhu sammā vadamāno vadeyya:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Kathañca, bhikkhave, vedagū hoti?
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti;
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vedagū hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sabbajī hoti?
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto hoti;
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sabbajī hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhuno apalikhataṁ gaṇḍamūlaṁ palikhataṁ hoti?
Gaṇḍoti kho, bhikkhave, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
Gaṇḍamūlanti kho, bhikkhave, taṇhāyetaṁ adhivacanaṁ.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā;
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno apalikhataṁ gaṇḍamūlaṁ palikhataṁ hoti.
Udako sudaṁ, bhikkhave, rāmaputto evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, udako rāmaputto avedagūyeva samāno ‘vedagūsmī’ti bhāsati, asabbajīyeva samāno ‘sabbajīsmī’ti bhāsati; apalikhataṁyeva gaṇḍamūlaṁ ‘palikhataṁ me gaṇḍamūlan’ti bhāsati.
Idha kho taṁ, bhikkhave, bhikkhu sammā vadamāno vadeyya:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Dasamaṁ.
Saḷavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Dve saṅgayhā parihānaṁ,
Pamādavihārī ca saṁvaro;
Samādhi paṭisallānaṁ,
Dve natumhākena uddakoti.
Saḷāyatanavagge dutiyapaṇṇāsako samatto.
Tassa vagguddānaṁ
Avijjā migajālañca,
Gilānaṁ channaṁ catutthakaṁ;
Saḷavaggena paññāsaṁ,
Dutiyo paṇṇāsako ayanti.
Paṭhamasatakaṁ.
SC 1“Bhikkhus, Uddaka Ramaputta used to make this declaration:
SC 2“‘This, surely a knowledge-master—
This, surely a universal conqueror—
This, surely he has excised
The tumour’s root not excised before!’
SC 3“Bhikkhus, though Uddaka Ramaputta was not himself a knowledge-master, he declared: ‘I am a knowledge-master.’ Though he was not himself a universal conqueror, he declared: ‘I am a universal conqueror.’ Though he had not excised the tumour’s root, he declared: ‘I have excised the tumour’s root.’ But here, bhikkhus, a bhikkhu speaking rightly might say:
SC 4“‘This, surely a knowledge-master—
This, surely a universal conqueror—
This, surely he has excised
The tumour’s root not excised before!’
SC 5“And how, bhikkhus, is one a knowledge-master? When a bhikkhu understands as they really are the origin, the passing away, the gratification, the danger, and the escape in regard to the six bases for contact, such a bhikkhu is a knowledge-master.
SC 6“And how, bhikkhus, is a bhikkhu a universal conqueror? When, having understood as they really are the origin, the passing away, the gratification, the danger, and the escape in regard to the six bases for contact, a bhikkhu is liberated by nonclinging, such a bhikkhu is a universal conqueror.
SC 7“And how, bhikkhus, does a bhikkhu excise the tumour’s root not excised before? ‘The tumour,’ bhikkhus: this is a designation for this body consisting of the four great elements, originating from mother and father, built up out of rice and gruel, subject to impermanence, to rubbing and pressing, to breaking apart and dispersal. ‘The tumour’s root’: this is a designation for craving. When craving has been abandoned by a bhikkhu, cut off at the root, sn.iv.84 made like a palm stump, obliterated so that it is no more subject to future arising, in such a case the bhikkhu has excised the tumour’s root not excised before.
SC 8“Bhikkhus, though Uddaka Ramaputta was not himself a knowledge-master, he declared: ‘I am a knowledge-master.’… But here, bhikkhus, a bhikkhu speaking rightly might say:
SC 9“‘This, surely a knowledge-master—
This, surely a universal conqueror—
This, surely he has excised
The tumour’s root not excised before!’”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Uddaka Rāmaputta, này các Tỷ-kheo, có nói như sau:
“Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào”.
Này các Tỷ-kheo, Uddaka Rāmaputta không phải bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả”; không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia, chưa từng đào.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo minh trí (vedagù)? Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo minh trí.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả? Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn trước kia chưa được đào? Mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là một danh từ chỉ cho cái thân do bốn đại tạo thành này, sanh ra từ cha mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, tự tánh là vô thường, biến hoại, mai một, hủy hoại, hủy diệt. Gốc rễ của mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với khát ái. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận khát ái, chặt đứt đến gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương lai; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đào lên khổ căn từ trước chưa được đào lên.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, chính là Uddaka Rāmaputta đã nói lên lời nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.
Này các Tỷ-kheo, Uddaka không phải là bậc minh trí, lại tự nói: “Ta là bậc minh trí”; không chiến thắng tất cả, lại nói: “Ta chiến thắng tất cả”; không đào lên khổ căn, lại nói: “Ðã đào lên khổ căn”.
Vi-n 8 Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân chánh, có thể nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
Ta chiến thắng tất cả,
Ta đào lên khổ căn,
Trước kia chưa từng đào.
“Udako sudaṁ, bhikkhave, rāmaputto evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, udako rāmaputto avedagūyeva samāno ‘vedagūsmī’ti bhāsati, asabbajīyeva samāno ‘sabbajīsmī’ti bhāsati, apalikhataṁyeva gaṇḍamūlaṁ ‘palikhataṁ me gaṇḍamūlan’ti bhāsati.
Idha kho taṁ, bhikkhave, bhikkhu sammā vadamāno vadeyya:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Kathañca, bhikkhave, vedagū hoti?
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti;
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vedagū hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sabbajī hoti?
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto hoti;
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sabbajī hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhuno apalikhataṁ gaṇḍamūlaṁ palikhataṁ hoti?
Gaṇḍoti kho, bhikkhave, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
Gaṇḍamūlanti kho, bhikkhave, taṇhāyetaṁ adhivacanaṁ.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā;
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno apalikhataṁ gaṇḍamūlaṁ palikhataṁ hoti.
Udako sudaṁ, bhikkhave, rāmaputto evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, udako rāmaputto avedagūyeva samāno ‘vedagūsmī’ti bhāsati, asabbajīyeva samāno ‘sabbajīsmī’ti bhāsati; apalikhataṁyeva gaṇḍamūlaṁ ‘palikhataṁ me gaṇḍamūlan’ti bhāsati.
Idha kho taṁ, bhikkhave, bhikkhu sammā vadamāno vadeyya:
‘idaṁ jātu vedagū,
idaṁ jātu sabbajī,
idaṁ jātu apalikhataṁ
gaṇḍamūlaṁ palikhaṇin’ti.
Dasamaṁ.
Saḷavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Dve saṅgayhā parihānaṁ,
Pamādavihārī ca saṁvaro;
Samādhi paṭisallānaṁ,
Dve natumhākena uddakoti.
Saḷāyatanavagge dutiyapaṇṇāsako samatto.
Tassa vagguddānaṁ
Avijjā migajālañca,
Gilānaṁ channaṁ catutthakaṁ;
Saḷavaggena paññāsaṁ,
Dutiyo paṇṇāsako ayanti.
Paṭhamasatakaṁ.