Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
Vi-n 3 —Thưa vâng, Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 4 Thế Tôn nói như sau:
—Ðầy đủ bốn đức tánh, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói lời thiện thuyết, không nói lời ác thuyết, nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp, nói lời ái ngữ, không nói lời ác ngữ, nói lời chơn ngữ, không nói lời phi chơn. Ðầy đủ bốn đức tính này, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích.
Vi-n 6 Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, Ðạo Sư lại nói thêm:
Bậc Thiện Nhơn dạy rằng:
Thứ nhất là thiện thuyết,
Thứ hai nói đúng pháp,
Chớ nói lời phi pháp,
Thứ ba nói ái ngữ,
Chớ nói lời ác ngữ,
Thứ tư, nói chơn thực,
Chớ nói lời phi chơn.
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Thế Tôn, hãy soi sáng cho con! Thiện Thệ, hãy soi sáng cho con!
Vi-n 8 Thế Tôn nói:
—Này Vangìsa, mong rằng Ông được soi sáng!
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích đáng:
Ai nói lên lời gì,
Lời ấy không khổ mình,
Lại không làm hại người,
Lời ấy là thiện thuyết.
Ai nói lời ái ngữ,
Lời nói khiến hoan hỷ,
Lời nói không ác độc,
Lời ấy là ái ngữ.
Các lời nói chơn thật,
Là lời nói bất tử,
Như vậy là thường pháp,
Từ thuở thật ngàn xưa.
Bậc Thiện Nhân được xem,
An trú trên chơn thực,
Trên nghĩa và trên pháp,
Lời đồn là như vậy.
Lời đức Phật nói lên,
Ðạt an ổn Niết-bàn,
Chấm dứt mọi khổ đau,
Thật lời nói tối thượng.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Catūhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatā vācā subhāsitā hoti, no dubbhāsitā; anavajjā ca ananuvajjā ca viññūnaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu subhāsitaṁyeva bhāsati no dubbhāsitaṁ, dhammaṁyeva bhāsati no adhammaṁ, piyaṁyeva bhāsati no appiyaṁ, saccaṁyeva bhāsati no alikaṁ.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi aṅgehi samannāgatā vācā subhāsitā hoti, no dubbhāsitā, anavajjā ca ananuvajjā ca viññūnan”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Subhāsitaṁ uttamamāhu santo,
Dhammaṁ bhaṇe nādhammaṁ taṁ dutiyaṁ;
Piyaṁ bhaṇe nāppiyaṁ taṁ tatiyaṁ,
Saccaṁ bhaṇe nālikaṁ taṁ catutthan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Tameva vācaṁ bhāseyya,
yāyattānaṁ na tāpaye;
Pare ca na vihiṁseyya,
sā ve vācā subhāsitā.
Piyavācaṁva bhāseyya,
yā vācā paṭinanditā;
Yaṁ anādāya pāpāni,
paresaṁ bhāsate piyaṁ.
Saccaṁ ve amatā vācā,
esa dhammo sanantano;
Sacce atthe ca dhamme ca,
āhu santo patiṭṭhitā.
Yaṁ buddho bhāsate vācaṁ,
khemaṁ nibbānapattiyā;
Dukkhassantakiriyāya,
sā ve vācānamuttamā”ti.
At Sāvatthī.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, speech that has four factors is well spoken, not poorly spoken. It’s blameless and is not criticized by sensible people.
What four?
It’s when a mendicant speaks well, not poorly; their speech is principled, not unprincipled; they speak pleasantly, not unpleasantly; and they speak truthfully, not falsely.
Speech with these four factors is well spoken, not poorly spoken. It’s blameless and is not criticized by sensible people.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“Good people say well-spoken words are foremost;
second, speech ought be principled, not unprincipled;
third, speak pleasantly, not unpleasantly;
and fourth, speak truthfully, not falsely.”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said,
“I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
“Speak only such words
as do not hurt yourself
nor harm others;
such speech is truly well spoken.
Speak only pleasing words,
words gladly welcomed.
Pleasing words are those
that bring nothing bad to others.
Truth itself is undying speech:
this is an ancient teaching.
Good people say the teaching and meaning
are grounded in truth.
The words spoken by the Buddha
for finding the sanctuary, extinguishment,
for making an end of suffering:
this really is the best kind of speech.”
Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
Vi-n 3 —Thưa vâng, Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 4 Thế Tôn nói như sau:
—Ðầy đủ bốn đức tánh, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói lời thiện thuyết, không nói lời ác thuyết, nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp, nói lời ái ngữ, không nói lời ác ngữ, nói lời chơn ngữ, không nói lời phi chơn. Ðầy đủ bốn đức tính này, này các Tỷ-kheo, lời nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có trí chỉ trích.
Vi-n 6 Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, Ðạo Sư lại nói thêm:
Bậc Thiện Nhơn dạy rằng:
Thứ nhất là thiện thuyết,
Thứ hai nói đúng pháp,
Chớ nói lời phi pháp,
Thứ ba nói ái ngữ,
Chớ nói lời ác ngữ,
Thứ tư, nói chơn thực,
Chớ nói lời phi chơn.
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Thế Tôn, hãy soi sáng cho con! Thiện Thệ, hãy soi sáng cho con!
Vi-n 8 Thế Tôn nói:
—Này Vangìsa, mong rằng Ông được soi sáng!
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích đáng:
Ai nói lên lời gì,
Lời ấy không khổ mình,
Lại không làm hại người,
Lời ấy là thiện thuyết.
Ai nói lời ái ngữ,
Lời nói khiến hoan hỷ,
Lời nói không ác độc,
Lời ấy là ái ngữ.
Các lời nói chơn thật,
Là lời nói bất tử,
Như vậy là thường pháp,
Từ thuở thật ngàn xưa.
Bậc Thiện Nhân được xem,
An trú trên chơn thực,
Trên nghĩa và trên pháp,
Lời đồn là như vậy.
Lời đức Phật nói lên,
Ðạt an ổn Niết-bàn,
Chấm dứt mọi khổ đau,
Thật lời nói tối thượng.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Catūhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatā vācā subhāsitā hoti, no dubbhāsitā; anavajjā ca ananuvajjā ca viññūnaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu subhāsitaṁyeva bhāsati no dubbhāsitaṁ, dhammaṁyeva bhāsati no adhammaṁ, piyaṁyeva bhāsati no appiyaṁ, saccaṁyeva bhāsati no alikaṁ.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi aṅgehi samannāgatā vācā subhāsitā hoti, no dubbhāsitā, anavajjā ca ananuvajjā ca viññūnan”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Subhāsitaṁ uttamamāhu santo,
Dhammaṁ bhaṇe nādhammaṁ taṁ dutiyaṁ;
Piyaṁ bhaṇe nāppiyaṁ taṁ tatiyaṁ,
Saccaṁ bhaṇe nālikaṁ taṁ catutthan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Tameva vācaṁ bhāseyya,
yāyattānaṁ na tāpaye;
Pare ca na vihiṁseyya,
sā ve vācā subhāsitā.
Piyavācaṁva bhāseyya,
yā vācā paṭinanditā;
Yaṁ anādāya pāpāni,
paresaṁ bhāsate piyaṁ.
Saccaṁ ve amatā vācā,
esa dhammo sanantano;
Sacce atthe ca dhamme ca,
āhu santo patiṭṭhitā.
Yaṁ buddho bhāsate vācaṁ,
khemaṁ nibbānapattiyā;
Dukkhassantakiriyāya,
sā ve vācānamuttamā”ti.