Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Do biết, do thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc, không phải do không biết, do không thấy.
Vi-n 4 Do biết cái gì, thấy cái gì, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là các hành … Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-kheo sống không chí tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm của vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.
Vi-n 6 Vì sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ. Không có tu tập Bốn chánh cần. Không có tu tập Bốn như ý túc. Không có tu tập Năm căn. Không có tu tập Năm lực. Không có tu tập Bảy giác chi. Không có tu tập Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.
Vi-n 8 Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vi-n 9 Vì sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Vi-n 10 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.
Vi-n 11 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ … Không có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 13 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần. Có tu tập Bốn như ý túc. Có tu tập Năm căn. Có tu tập Năm lực. Có tu tập Bảy giác chi. Có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 14 Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng các con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vi-n 15 Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Vi-n 16 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sống chí tâm tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 17 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ … có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 18 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ đá hay đệ tử người thợ đá, khi nhìn vào cán búa thấy dấu các ngón tay và dấu các ngón tay cái. Vị ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay, từng ấy cán búa của ta bị hao mòn; hôm nay từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.
Vi-n 19 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo chí tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay, từng ấy lậu hoặc của ta được hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được các lậu hoặc được hao mòn trên sự hao mòn các lậu hoặc.
Vi-n 20 Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển có đầy đủ cột buồm và dây buồm, bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa khô; các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng, rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng trở thành yếu và hư nát.
Vi-n 21 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và hư nát.
Sāvatthinidānaṁ.
“Jānato ahaṁ, bhikkhave, passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi, no ajānato no apassato.
Kiñca, bhikkhave, jānato kiṁ passato āsavānaṁ khayo hoti?
‘Iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …
iti saññā …
iti saṅkhārā …
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti—
evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato āsavānaṁ khayo hoti.
Bhāvanānuyogaṁ ananuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’ tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Abhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, abhāvitattā catunnaṁ sammappadhānānaṁ, abhāvitattā catunnaṁ iddhipādānaṁ, abhāvitattā pañcannaṁ indriyānaṁ, abhāvitattā pañcannaṁ balānaṁ, abhāvitattā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, abhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho abhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi pana, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā;
tāni kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ ananuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Abhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Bhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, bhāvitattā catunnaṁ sammappadhānānaṁ, bhāvitattā catunnaṁ iddhipādānaṁ, bhāvitattā pañcannaṁ indriyānaṁ, bhāvitattā pañcannaṁ balānaṁ, bhāvitattā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, bhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi pana, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā;
tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Bhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… bhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, palagaṇḍassa vā palagaṇḍantevāsissa vā vāsijaṭe dissanteva aṅgulipadāni dissati aṅguṭṭhapadaṁ.
No ca khvassa evaṁ ñāṇaṁ hoti:
‘ettakaṁ vata me ajja vāsijaṭassa khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti.
Atha khvassa khīṇe khīṇantveva ñāṇaṁ hoti.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ ñāṇaṁ hoti:
‘ettakaṁ vata me ajja āsavānaṁ khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti, atha khvassa khīṇe khīṇantveva ñāṇaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, sāmuddikāya nāvāya vettabandhanabaddhāya vassamāsāni udake pariyādāya hemantikena thalaṁ ukkhittāya vātātapaparetāni vettabandhanāni. Tāni pāvusakena meghena abhippavuṭṭhāni appakasireneva paṭippassambhanti pūtikāni bhavanti;
evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato appakasireneva saṁyojanāni paṭippassambhanti pūtikāni bhavantī”ti.
Navamaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, I say that the destruction of the taints is for one who knows and sees, not for one who does not know and does not see. For one who knows what, who sees what, does the destruction of the taints come about? ‘Such is form, such its origin, such its passing away; such is feeling … such is perception … such are volitional formations … such is consciousness, such its origin, sn.iii.153 such its passing away’: it is for one who knows thus, for one who sees thus, that the destruction of the taints comes about.
SC 2“Bhikkhus, when a bhikkhu does not dwell devoted to development, even though such a wish as this might arise in him: ‘Oh, that my mind might be liberated from the taints by nonclinging!’ yet his mind is not liberated from the taints by nonclinging. For what reason? It should be said: because of nondevelopment. Because of not developing what? Because of not developing the four establishments of mindfulness … the four right strivings … the four bases for spiritual power … the five spiritual faculties … the five powers … the seven factors of enlightenment … the Noble Eightfold Path.
SC 3“Suppose, bhikkhus there was a hen with eight, ten, or twelve eggs that she had not covered, incubated, and nurtured properly. Even though such a wish as this might arise in her: ‘Oh, that my chicks might pierce their shells with the points of their claws and beaks and hatch safely!’ yet the chicks are incapable of piercing their shells with the points of their claws and beaks and hatching safely. For what reason? Because that hen with eight, ten, or twelve eggs had not covered, incubated, and nurtured them properly.
SC 4“So too, bhikkhus, when a bhikkhu does not dwell devoted to development, even though such a wish as this might arise in him: ‘Oh, that my mind might be liberated from the taints by nonclinging! ’ yet his mind is not liberated from the taints by nonclinging. For what reason? It should be said: because of nondevelopment. Because of not developing what? Because of not developing … the Noble Eightfold Path.
SC 5“Bhikkhus, when a bhikkhu dwells devoted to development, sn.iii.154 even though no such wish as this might arise in him: ‘Oh, that my mind might be liberated from the taints by nonclinging!’ yet his mind is liberated from the taints by nonclinging. For what reason? It should be said: because of development. Because of developing what? Because of developing the four establishments of mindfulness … the four right strivings … the four bases for spiritual power … the five spiritual faculties … the five powers … the seven factors of enlightenment … the Noble Eightfold Path.
SC 6“Suppose, bhikkhus, there was a hen with eight, ten, or twelve eggs that she had covered, incubated, and nurtured properly. Even though no such wish as this might arise in her: ‘Oh, that my chicks might pierce their shells with the points of their claws and beaks and hatch safely!’ yet the chicks are capable of piercing their shells with the points of their claws and beaks and of hatching safely. For what reason? Because that hen with eight, ten, or twelve eggs had covered, incubated, and nurtured them properly.
SC 7“So too, bhikkhus, when a bhikkhu dwells devoted to development, even though no such wish as this might arise in him: ‘Oh, that my mind might be liberated from the taints by nonclinging! ’ yet his mind is liberated from the taints by nonclinging. For what reason? It should be said: because of development. Because of developing what? Because of developing … the Noble Eightfold Path.
SC 8“When, bhikkhus, a carpenter or a carpenter’s apprentice looks at the handle of his adze, he sees the impressions of his fingers and his thumb, but he does not know: ‘So much of the adze handle has been worn away today, so much yesterday, so much earlier.’ But when it has worn away, the knowledge occurs to him that it has worn away.
SC 9“So too, bhikkhus, when a bhikkhu dwells devoted to development, sn.iii.155 even though no such knowledge occurs to him: ‘So much of my taints has been worn away today, so much yesterday, so much earlier,’ yet when they are worn away, the knowledge occurs to him that they have been worn away.
SC 10“Suppose, bhikkhus, there was a seafaring ship bound with rigging that had been worn away in the water for six months. It would be hauled up on dry land during the cold season and its rigging would be further attacked by wind and sun. Inundated by rain from a rain cloud, the rigging would easily collapse and rot away. So too, bhikkhus, when a bhikkhu dwells devoted to development, his fetters easily collapse and rot away.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Do biết, do thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc, không phải do không biết, do không thấy.
Vi-n 4 Do biết cái gì, thấy cái gì, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là các hành … Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-kheo sống không chí tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm của vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.
Vi-n 6 Vì sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ. Không có tu tập Bốn chánh cần. Không có tu tập Bốn như ý túc. Không có tu tập Năm căn. Không có tu tập Năm lực. Không có tu tập Bảy giác chi. Không có tu tập Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.
Vi-n 8 Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vi-n 9 Vì sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Vi-n 10 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.
Vi-n 11 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ … Không có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 13 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần. Có tu tập Bốn như ý túc. Có tu tập Năm căn. Có tu tập Năm lực. Có tu tập Bảy giác chi. Có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 14 Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng các con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vi-n 15 Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Vi-n 16 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sống chí tâm tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 17 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ … có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 18 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ đá hay đệ tử người thợ đá, khi nhìn vào cán búa thấy dấu các ngón tay và dấu các ngón tay cái. Vị ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay, từng ấy cán búa của ta bị hao mòn; hôm nay từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.
Vi-n 19 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo chí tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay, từng ấy lậu hoặc của ta được hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được các lậu hoặc được hao mòn trên sự hao mòn các lậu hoặc.
Vi-n 20 Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển có đầy đủ cột buồm và dây buồm, bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa khô; các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng, rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng trở thành yếu và hư nát.
Vi-n 21 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và hư nát.
Sāvatthinidānaṁ.
“Jānato ahaṁ, bhikkhave, passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi, no ajānato no apassato.
Kiñca, bhikkhave, jānato kiṁ passato āsavānaṁ khayo hoti?
‘Iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …
iti saññā …
iti saṅkhārā …
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti—
evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato āsavānaṁ khayo hoti.
Bhāvanānuyogaṁ ananuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’ tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Abhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, abhāvitattā catunnaṁ sammappadhānānaṁ, abhāvitattā catunnaṁ iddhipādānaṁ, abhāvitattā pañcannaṁ indriyānaṁ, abhāvitattā pañcannaṁ balānaṁ, abhāvitattā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, abhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho abhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi pana, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā;
tāni kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ ananuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Abhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Bhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, bhāvitattā catunnaṁ sammappadhānānaṁ, bhāvitattā catunnaṁ iddhipādānaṁ, bhāvitattā pañcannaṁ indriyānaṁ, bhāvitattā pañcannaṁ balānaṁ, bhāvitattā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, bhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi pana, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā;
tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Bhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… bhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, palagaṇḍassa vā palagaṇḍantevāsissa vā vāsijaṭe dissanteva aṅgulipadāni dissati aṅguṭṭhapadaṁ.
No ca khvassa evaṁ ñāṇaṁ hoti:
‘ettakaṁ vata me ajja vāsijaṭassa khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti.
Atha khvassa khīṇe khīṇantveva ñāṇaṁ hoti.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ ñāṇaṁ hoti:
‘ettakaṁ vata me ajja āsavānaṁ khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti, atha khvassa khīṇe khīṇantveva ñāṇaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, sāmuddikāya nāvāya vettabandhanabaddhāya vassamāsāni udake pariyādāya hemantikena thalaṁ ukkhittāya vātātapaparetāni vettabandhanāni. Tāni pāvusakena meghena abhippavuṭṭhāni appakasireneva paṭippassambhanti pūtikāni bhavanti;
evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato appakasireneva saṁyojanāni paṭippassambhanti pūtikāni bhavantī”ti.
Navamaṁ.