Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ānanda và Tôn giả Bhadda trú ở Pātaliputta, ở khu vườn Kukkuta.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Bhadda, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu … nói với Tôn giả Ānanda:
Vi-n 3 —Này Hiền giả Ānanda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này vì mục đích gì được Thế Tôn nói đến?
—Lành thay, lành thay, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện là trí tuệ (ummagga) của Hiền giả, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện là biện tài (patibhànam) của Hiền giả! Chí thiện là câu hỏi của Hiền giả! Này Hiền giả Bhadda, có phải như vầy là câu hỏi của Hiền giả: “Này Hiền giả Ānanda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, vì mục đích gì được Thế Tôn nói đến?” chăng?
—Thưa vâng, Hiền giả.
Vi-n 4 —Này Hiền giả Bhadda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, chính do tu tập bốn niệm xứ đưa lại, như Thế Tôn đã nói. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … trú, quán thọ trên các cảm thọ … trú, quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Hiền giả Bhadda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, chính do tu tập bốn niệm xứ đưa lại, như Thế Tôn đã nói.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā ca ānando āyasmā ca bhaddo pāṭaliputte viharanti kukkuṭārāme.
Atha kho āyasmā bhaddo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā bhaddo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“yānimāni, āvuso ānanda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni kimatthiyāni vuttāni bhagavatā”ti?
“Sādhu sādhu, āvuso bhadda.
Bhaddako kho te, āvuso bhadda, ummaṅgo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, āvuso bhadda, pucchasi:
‘yānimāni, āvuso ānanda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni kimatthiyāni vuttāni bhagavatā’”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yānimāni, āvuso bhadda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni yāvadeva catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvanāya vuttāni bhagavatā.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Yānimāni, āvuso bhadda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni yāvadeva imesaṁ catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvanāya vuttāni bhagavatā”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Venerable Ānanda and the Venerable Bhadda were dwelling at Paṭaliputta in the Cock’s Park. Then, in the evening, the Venerable Bhadda emerged from seclusion, approached the Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to the Venerable Ānanda:
SC 2“Friend Ānanda, as to the wholesome virtues spoken of by the Blessed One, what is the purpose for which they were spoken of by him?”
SC 3“Good, good, friend Bhadda! Your intelligence is excellent, your ingenuity is excellent, your inquiry is a good one. For you have asked me: ‘Friend Ānanda, as to the wholesome virtues spoken of by the Blessed One, what is the purpose for which they were spoken of by him?’”
“Yes, friend.”
SC 4“Those wholesome virtues spoken of by the Blessed One were spoken of by him for the purpose of developing the four establishments of mindfulness. What four? Here, friend, a bhikkhu dwells contemplating the body in the body … feelings in feelings … mind in mind … phenomena in phenomena, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. sn.v.172
SC 5“Those virtues spoken of by the Blessed One were spoken of by him for the sake of developing these four establishments of mindfulness.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ānanda và Tôn giả Bhadda trú ở Pātaliputta, ở khu vườn Kukkuta.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Bhadda, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu … nói với Tôn giả Ānanda:
Vi-n 3 —Này Hiền giả Ānanda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này vì mục đích gì được Thế Tôn nói đến?
—Lành thay, lành thay, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện là trí tuệ (ummagga) của Hiền giả, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện là biện tài (patibhànam) của Hiền giả! Chí thiện là câu hỏi của Hiền giả! Này Hiền giả Bhadda, có phải như vầy là câu hỏi của Hiền giả: “Này Hiền giả Ānanda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, vì mục đích gì được Thế Tôn nói đến?” chăng?
—Thưa vâng, Hiền giả.
Vi-n 4 —Này Hiền giả Bhadda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, chính do tu tập bốn niệm xứ đưa lại, như Thế Tôn đã nói. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … trú, quán thọ trên các cảm thọ … trú, quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Hiền giả Bhadda, những thiện giới này được Thế Tôn nói đến, những thiện giới này, chính do tu tập bốn niệm xứ đưa lại, như Thế Tôn đã nói.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā ca ānando āyasmā ca bhaddo pāṭaliputte viharanti kukkuṭārāme.
Atha kho āyasmā bhaddo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā bhaddo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“yānimāni, āvuso ānanda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni kimatthiyāni vuttāni bhagavatā”ti?
“Sādhu sādhu, āvuso bhadda.
Bhaddako kho te, āvuso bhadda, ummaṅgo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā.
Evañhi tvaṁ, āvuso bhadda, pucchasi:
‘yānimāni, āvuso ānanda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni kimatthiyāni vuttāni bhagavatā’”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Yānimāni, āvuso bhadda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni yāvadeva catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvanāya vuttāni bhagavatā.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Yānimāni, āvuso bhadda, kusalāni sīlāni vuttāni bhagavatā, imāni kusalāni sīlāni yāvadeva imesaṁ catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvanāya vuttāni bhagavatā”ti.
Paṭhamaṁ.