Vi-n 1 Nhân duyên ở Kapilavatthu.
Vi-n 2 Rồi họ Thích Mahānāma đi đến họ Thích Godhà; sau khi đến, nói với họ Thích Godhà:
Vi-n 3 —Này Godhà, theo như Hiền giả biết một người là bậc Dự lưu, thành tựu bao nhiêu pháp thời không bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?
—Này Mahānāma, theo như tôi biết một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 4 Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … là vô thượng phước điền ở đời. Này Mahānāma, do thành tựu ba pháp này, tôi được biết một người là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 5 Nhưng này Mahānāma, theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp thời không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?
—Này Gohdà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn? Ở đây, này Godhà, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp này thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 6 —Hãy chờ một lát, này Mahānāma, hãy chờ một lát, này Mahānāma. Thế Tôn biết rõ việc này, thành tựu hay không thành tựu những pháp này. Này Godhà, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn và sau khi đến, hãy hỏi về ý nghĩa này.
Vi-n 7 Rồi họ Thích Mahānāma và họ Thích Godhà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 8 —Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến họ Thích Godhà; sau khi đến, nói với họ Thích Godhà:
“—Này Godhà, theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp … giác ngộ?”
Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, họ Thích Godhà nói với con:
“—Này Mahānāma, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp … giác ngộ. Thế nào là ba? Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: ‘Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn’ … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Này Mahānāma, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp này thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Còn này Mahānāma theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp … giác ngộ?”
Vi-n 9 Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với họ Thích Godhàa
“—Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp … giác ngộ. Thế nào là bốn? Ở đây, này Godhà, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: ‘Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp … giác ngộ”.
Ðược nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, họ Thích Godhà, nói với con:
“—Hãy chờ một lát, này Mahānāma, hãy chờ một lát, này Mahanàma. Thế Tôn sẽ biết rõ việc này, là thành tựu hay không thành tựu những pháp này”.
Vi-n 10 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu nói vấn đề pháp sự khởi lên (dhamma samuppāda), và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 11 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo và chúng Tỷ-kheo-ni. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn … Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 12 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni và nam cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn … Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 13 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, và nữ cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn … Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 14 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, chúng Thiên giới, chúng Ma giới, chúng Phạm thiên giới, quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 15 —Họ Thích Mahānāma đã nói như vậy, này Godhà, Ông có nói gì không?
—Họ Thích Mahānāma đã nói như vậy, con không có nói gì trừ lời nói “Thiện”, trừ lời nói “Tốt”.
Kapilavatthunidānaṁ.
Atha kho mahānāmo sakko yena godhā sakko tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā godhaṁ sakkaṁ etadavoca:
“katihi tvaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan”ti?
“Tīhi khvāhaṁ, mahānāma, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi tīhi?
Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti—
suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
Imehi khvāhaṁ, mahānāma, tīhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Tvaṁ pana, mahānāma, katihi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan”ti?
“Catūhi khvāhaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, godhe, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi khvāhaṁ, godhe, catūhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan”ti.
“Āgamehi tvaṁ, mahānāma, āgamehi tvaṁ, mahānāma.
Bhagavāva etaṁ jāneyya etehi dhammehi samannāgataṁ vā asamannāgataṁ vā”ti.
“Āyāma, godhe, yena bhagavā tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā bhagavato etamatthaṁ ārocessāmā”ti.
Atha kho mahānāmo sakko godhā ca sakko yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, yena godhā sakko tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā godhaṁ sakkaṁ etadavocaṁ:
‘katihi tvaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ’?
Evaṁ vutte, bhante, godhā sakko maṁ etadavoca—
Tīhi khvāhaṁ, mahānāma, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi tīhi?
Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti—
suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
Imehi khvāhaṁ, mahānāma, tīhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Tvaṁ pana, mahānāma, katamehi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan’ti?
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, godhaṁ sakkaṁ etadavocaṁ:
‘catūhi khvāhaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, godhe, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi khvāhaṁ, godhe, catūhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan’ti.
Evaṁ vutte, bhante, godhā sakko maṁ etadavoca:
‘āgamehi tvaṁ, mahānāma, āgamehi tvaṁ, mahānāma.
Bhagavāva etaṁ jāneyya etehi dhammehi samannāgataṁ vā asamannāgataṁ vā’ti.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho ca upāsakā ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho upāsakā upāsikāyo ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho upāsakā upāsikāyo sadevako ca loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretū”ti.
“Evaṁvādī tvaṁ, godhe, mahānāmaṁ sakkaṁ kiṁ vadesī”ti?
“Evaṁvādāhaṁ, bhante, mahānāmaṁ sakkaṁ na kiñci vadāmi, aññatra kalyāṇā aññatra kusalā”ti.
Tatiyaṁ.
At Kapilavatthu.
Then Mahānāma the Sakyan went up to Godhā the Sakyan, and said to him,
“Godhā, how many things must a individual have for you to recognize them as a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening?”
“Mahānāma, an individual must have three things for me to recognize them as a stream-enterer.
What three?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
and the Saṅgha …
When an individual has these three things I recognize them as a stream-enterer.
But Mahānāma, how many things must an individual have for you to recognize them as a stream-enterer?”
“Godhā, an individual must have four things for me to recognize them as a stream-enterer.
What four?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
When an individual has these four things I recognize them as a stream-enterer.”
“Hold on, Mahānāma, hold on!
Only the Buddha would know whether or not they have these things.”
“Come, Godhā, let’s go to the Buddha and inform him about this.”
Then Mahānāma and Godhā went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Mahānāma told the Buddha all that had happened, and then said:
“Sir, some issue regarding the teaching might come up. The Buddha might take one side, and the Saṅgha of monks the other.
I’d side with the Buddha.
May the Buddha remember me as having such confidence.
Some issue regarding the teaching might come up. The Buddha might take one side, and the Saṅgha of monks and the Saṅgha of nuns the other. …
The Buddha might take one side, and the Saṅgha of monks and the Saṅgha of nuns and the laymen the other. …
The Buddha might take one side, and the Saṅgha of monks and the Saṅgha of nuns and the laymen and the laywomen the other. …
The Buddha might take one side, and the Saṅgha of monks and the Saṅgha of nuns and the laymen and the laywomen and the world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—the other.
I’d side with the Buddha.
May the Buddha remember me as having such confidence.”
“Godhā, what do you have to say to Mahānāma when he speaks like this?”
“Sir, I have nothing to say to Mahānāma when he speaks like this, except what is good and wholesome.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Kapilavatthu.
Vi-n 2 Rồi họ Thích Mahānāma đi đến họ Thích Godhà; sau khi đến, nói với họ Thích Godhà:
Vi-n 3 —Này Godhà, theo như Hiền giả biết một người là bậc Dự lưu, thành tựu bao nhiêu pháp thời không bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?
—Này Mahānāma, theo như tôi biết một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 4 Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … là vô thượng phước điền ở đời. Này Mahānāma, do thành tựu ba pháp này, tôi được biết một người là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 5 Nhưng này Mahānāma, theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp thời không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ?
—Này Gohdà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn? Ở đây, này Godhà, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp này thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 6 —Hãy chờ một lát, này Mahānāma, hãy chờ một lát, này Mahānāma. Thế Tôn biết rõ việc này, thành tựu hay không thành tựu những pháp này. Này Godhà, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn và sau khi đến, hãy hỏi về ý nghĩa này.
Vi-n 7 Rồi họ Thích Mahānāma và họ Thích Godhà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 8 —Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến họ Thích Godhà; sau khi đến, nói với họ Thích Godhà:
“—Này Godhà, theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp … giác ngộ?”
Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, họ Thích Godhà nói với con:
“—Này Mahānāma, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp … giác ngộ. Thế nào là ba? Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: ‘Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn’ … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Này Mahānāma, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu ba pháp này thời không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Còn này Mahānāma theo như Hiền giả biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bao nhiêu pháp … giác ngộ?”
Vi-n 9 Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với họ Thích Godhàa
“—Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp … giác ngộ. Thế nào là bốn? Ở đây, này Godhà, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: ‘Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Này Godhà, theo như tôi biết, một người là bậc Dự lưu thành tựu bốn pháp … giác ngộ”.
Ðược nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, họ Thích Godhà, nói với con:
“—Hãy chờ một lát, này Mahānāma, hãy chờ một lát, này Mahanàma. Thế Tôn sẽ biết rõ việc này, là thành tựu hay không thành tựu những pháp này”.
Vi-n 10 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu nói vấn đề pháp sự khởi lên (dhamma samuppāda), và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 11 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo và chúng Tỷ-kheo-ni. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn … Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 12 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni và nam cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn … Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 13 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, và nữ cư sĩ. Bên nào là Thế Tôn … Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 14 Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu có vấn đề pháp sự khởi lên, và một bên là Thế Tôn, một bên là chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, chúng Thiên giới, chúng Ma giới, chúng Phạm thiên giới, quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Bên nào là Thế Tôn, bên ấy con theo. Vì bạch Thế Tôn, đó là tịnh tín của con. Mong Thế Tôn chấp nhận.
Vi-n 15 —Họ Thích Mahānāma đã nói như vậy, này Godhà, Ông có nói gì không?
—Họ Thích Mahānāma đã nói như vậy, con không có nói gì trừ lời nói “Thiện”, trừ lời nói “Tốt”.
Kapilavatthunidānaṁ.
Atha kho mahānāmo sakko yena godhā sakko tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā godhaṁ sakkaṁ etadavoca:
“katihi tvaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan”ti?
“Tīhi khvāhaṁ, mahānāma, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi tīhi?
Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti—
suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
Imehi khvāhaṁ, mahānāma, tīhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Tvaṁ pana, mahānāma, katihi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan”ti?
“Catūhi khvāhaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, godhe, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi khvāhaṁ, godhe, catūhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan”ti.
“Āgamehi tvaṁ, mahānāma, āgamehi tvaṁ, mahānāma.
Bhagavāva etaṁ jāneyya etehi dhammehi samannāgataṁ vā asamannāgataṁ vā”ti.
“Āyāma, godhe, yena bhagavā tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā bhagavato etamatthaṁ ārocessāmā”ti.
Atha kho mahānāmo sakko godhā ca sakko yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, yena godhā sakko tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā godhaṁ sakkaṁ etadavocaṁ:
‘katihi tvaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ’?
Evaṁ vutte, bhante, godhā sakko maṁ etadavoca—
Tīhi khvāhaṁ, mahānāma, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi tīhi?
Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti—
suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
Imehi khvāhaṁ, mahānāma, tīhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Tvaṁ pana, mahānāma, katamehi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāsi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan’ti?
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, godhaṁ sakkaṁ etadavocaṁ:
‘catūhi khvāhaṁ, godhe, dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇaṁ.
Katamehi catūhi?
Idha, godhe, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi khvāhaṁ, godhe, catūhi dhammehi samannāgataṁ sotāpannapuggalaṁ ājānāmi avinipātadhammaṁ niyataṁ sambodhiparāyaṇan’ti.
Evaṁ vutte, bhante, godhā sakko maṁ etadavoca:
‘āgamehi tvaṁ, mahānāma, āgamehi tvaṁ, mahānāma.
Bhagavāva etaṁ jāneyya etehi dhammehi samannāgataṁ vā asamannāgataṁ vā’ti.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho ca upāsakā ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho upāsakā upāsikāyo ca.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu.
Idha, bhante, kocideva dhammo samuppādo uppajjeyya, ekato assa bhagavā ekato bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅgho upāsakā upāsikāyo sadevako ca loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā.
Yeneva bhagavā tenevāhaṁ assaṁ.
Evaṁ pasannaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretū”ti.
“Evaṁvādī tvaṁ, godhe, mahānāmaṁ sakkaṁ kiṁ vadesī”ti?
“Evaṁvādāhaṁ, bhante, mahānāmaṁ sakkaṁ na kiñci vadāmi, aññatra kalyāṇā aññatra kusalā”ti.
Tatiyaṁ.