Vi-n 1-3. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh?
Vi-n 4 —Tại đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng nghe nói như sau: “Các Kim xí điểu từ trứng sanh được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, thọ hưởng nhiều lạc”.
Vi-n 5 Chúng suy nghĩ như sau: “Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh!”
Vi-n 6 Chúng bố thí đồ ăn. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh. Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh. Chúng bố thí đồ uống … Chúng bố thí vải mặc … Chúng bố thí hương liệu xoa bóp … Chúng bố thí ngọa cụ … Chúng bố thí nhà cửa … Chúng bố thí đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh.
Vi-n 7 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena dvayakārī hoti, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī.
Tassa sutaṁ hoti:
‘aṇḍajā supaṇṇā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti.
Tassa evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti.
So annaṁ deti …pe…
pānaṁ deti …
vatthaṁ deti …
yānaṁ deti …
mālaṁ deti …
gandhaṁ deti …
vilepanaṁ deti …
seyyaṁ deti …
āvasathaṁ deti …
padīpeyyaṁ deti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Soḷasamaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born phoenixes?”
“Mendicant, it’s when someone does both kinds of deeds by body, speech, and mind.
And they’ve heard:
‘The egg-born phoenixes are long-lived, beautiful, and very happy.’
They think:
‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the egg-born phoenixes!’
They give food …”
“… drink …”
“… clothing …”
“… a vehicle …”
“… a garland …”
“… fragrance …”
“… makeup …”
“… a bed …”
“… a house …”
“… a lamp.
When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the egg-born phoenixes.
This is the cause, this is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born phoenixes.”
Vi-n 1-3. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh?
Vi-n 4 —Tại đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng nghe nói như sau: “Các Kim xí điểu từ trứng sanh được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, thọ hưởng nhiều lạc”.
Vi-n 5 Chúng suy nghĩ như sau: “Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh!”
Vi-n 6 Chúng bố thí đồ ăn. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh. Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh. Chúng bố thí đồ uống … Chúng bố thí vải mặc … Chúng bố thí hương liệu xoa bóp … Chúng bố thí ngọa cụ … Chúng bố thí nhà cửa … Chúng bố thí đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh.
Vi-n 7 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena dvayakārī hoti, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī.
Tassa sutaṁ hoti:
‘aṇḍajā supaṇṇā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti.
Tassa evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti.
So annaṁ deti …pe…
pānaṁ deti …
vatthaṁ deti …
yānaṁ deti …
mālaṁ deti …
gandhaṁ deti …
vilepanaṁ deti …
seyyaṁ deti …
āvasathaṁ deti …
padīpeyyaṁ deti.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Soḷasamaṁ.