Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một bó lúa quăng tại ngã tư đường, rồi sáu người đến, tay cầm cái đập và họ đập bó lúa ấy với sáu cái đập (vyàkggì)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy được khéo đập với sáu cái đập ấy. Rồi một người thứ bảy đến, tay cầm cái đập, và người ấy đập bó lúa ấy với cái đập thứ bảy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại càng được khéo đập với cái đập thứ bảy.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị đập trong con mắt bởi những sắc khả ái và không khả ái … bị đập trong lưỡi bởi những vị khả ái và không khả ái … bị đập trong ý bởi những pháp khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu kẻ vô văn phàm phu ấy lại nghĩ đến tái sanh trong tương lai, như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại càng bị khéo đập hơn nữa. Ví như, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại được đập với cái đập thứ bảy nữa.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt.
Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua A-tu-la gọi các A-tu-la: “Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la”. Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba: “Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất là khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói vua A-tu-la Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.
Vi-n 6 Nhưng trận chiến ấy, chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường Sudhamma.
Vi-n 7 Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua A-tu-la Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua A-tu-la Vepacitti suy nghĩ như sau: “Chư Thiên theo Chánh pháp, còn A-tu-la theo phi pháp. Nay ta đi đến thành của chư Thiên”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình được cởi trói hai chân, hai tay và thứ năm là cổ, và được hưởng thọ, được thưởng thức đầy đủ năm dục công đức cõi trời. Và này các Tỷ-kheo, khi vua A-tu-la suy nghĩ như sau: “Các A-tu-la theo Chánh pháp, chư Thiên theo phi pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến thành của các A-tu-la”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và bị tước bỏ năm dục công đức cõi trời.
Vi-n 8 Như vậy, này các Tỷ-kheo, thật tế nhị là sự trói buộc của Vepacitti, và còn tế nhị hơn là sự trói buộc của Māra. Ai có tư tưởng (Mannamàna), người ấy bị Māra trói buộc. Ai không có tư tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Cái này là tôi”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không là”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có tưởng”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một tư tưởng. Có tư tưởng, này các Tỷ-kheo, là tham. Có tư tưởng là mụt nhọt. Có tư tưởng là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có tư tưởng”.
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một động chuyển (injitam). “Cái này là tôi”, là một động chuyển. “Tôi sẽ là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có sắc”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỷ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển”.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một chấn động (phanditam). “Cái này là tôi”, là một chấn động. “Tôi sẽ là”, là một chấn động. “Tôi sẽ không là”, là một chấn động. “Tôi sẽ có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một chấn động. Chấn động, này các Tỷ-kheo, là tham. Chấn động là mụt nhọt. Chấn động là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không chấn động”.
Vi-n 11 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một hý luận (papancitam). “Cái này là tôi”, là một hý luận. “Tôi sẽ là”, là một hý luận. “Tôi sẽ không là”, là một hý luận. “Tôi sẽ có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một hý luận. Hý luận, này các Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là mụt nhọt. Hý luận là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có hý luận”.
Vi-n 12 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một ngã mạn. “Cái này là tôi”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một ngã mạn. Ngã mạn, này các Tỷ-kheo, là tham. Ngã mạn là mụt nhọt. Ngã mạn là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm trừ bỏ ngã mạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
“Seyyathāpi, bhikkhave, yavakalāpī cātumahāpathe nikkhittā assa.
Atha cha purisā āgaccheyyuṁ byābhaṅgihatthā.
Te yavakalāpiṁ chahi byābhaṅgīhi haneyyuṁ.
Evañhi sā, bhikkhave, yavakalāpī suhatā assa chahi byābhaṅgīhi haññamānā.
Atha sattamo puriso āgaccheyya byābhaṅgihattho.
So taṁ yavakalāpiṁ sattamāya byābhaṅgiyā haneyya.
Evañhi sā bhikkhave, yavakalāpī suhatatarā assa, sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano cakkhusmiṁ haññati manāpāmanāpehi rūpehi …pe…
jivhāya haññati manāpāmanāpehi rasehi …pe…
manasmiṁ haññati manāpāmanāpehi dhammehi.
Sace so, bhikkhave, assutavā puthujjano āyatiṁ punabbhavāya ceteti, evañhi so, bhikkhave, moghapuriso suhatataro hoti, seyyathāpi sā yavakalāpī sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo asure āmantesi:
‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe asurā jineyyuṁ devā parājineyyuṁ, yena naṁ sakkaṁ devānamindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha asurapuran’ti.
Sakkopi kho, bhikkhave, devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe devā jineyyuṁ asurā parājineyyuṁ, yena naṁ vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha sudhammaṁ devasabhan’ti.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu.
Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā sakkassa devānamindassa santike ānesuṁ sudhammaṁ devasabhaṁ.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vepacitti asurindo kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho hoti.
Yadā kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṁ hoti:
‘dhammikā kho devā, adhammikā asurā, idheva dānāhaṁ devapuraṁ gacchāmī’ti.
Atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi muttaṁ attānaṁ samanupassati, dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Yadā ca kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṁ hoti:
‘dhammikā kho asurā, adhammikā devā, tattheva dānāhaṁ asurapuraṁ gamissāmī’ti.
atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddhaṁ attānaṁ samanupassati, dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi parihāyati.
Evaṁ sukhumaṁ kho, bhikkhave, vepacittibandhanaṁ.
Tato sukhumataraṁ mārabandhanaṁ.
Maññamāno kho, bhikkhave, baddho mārassa, amaññamāno mutto pāpimato.
‘Asmī’ti, bhikkhave, maññitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti maññitametaṁ, ‘bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘na bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti maññitametaṁ.
Maññitaṁ, bhikkhave, rogo, maññitaṁ gaṇḍo, maññitaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘amaññamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, iñjitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti iñjitametaṁ, ‘bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘na bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti iñjitametaṁ.
Iñjitaṁ, bhikkhave, rogo, iñjitaṁ gaṇḍo, iñjitaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘aniñjamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, phanditametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti phanditametaṁ, ‘bhavissan’ti …pe… ‘na bhavissan’ti … ‘rūpī bhavissan’ti … ‘arūpī bhavissan’ti … ‘saññī bhavissan’ti … ‘asaññī bhavissan’ti … ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti phanditametaṁ.
Phanditaṁ, bhikkhave, rogo, phanditaṁ gaṇḍo, phanditaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘aphandamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, papañcitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti papañcitametaṁ, ‘bhavissan’ti …pe… ‘na bhavissan’ti … ‘rūpī bhavissan’ti … ‘arūpī bhavissan’ti … ‘saññī bhavissan’ti … ‘asaññī bhavissan’ti … ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti papañcitametaṁ.
Papañcitaṁ, bhikkhave, rogo, papañcitaṁ gaṇḍo, papañcitaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘nippapañcena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, mānagatametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti mānagatametaṁ, ‘bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘na bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti mānagatametaṁ.
Mānagataṁ, bhikkhave, rogo, mānagataṁ gaṇḍo, mānagataṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘nihatamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Ekādasamaṁ.
Āsīvisavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Āsīviso ratho kummo,
dve dārukkhandhā avassuto;
Dukkhadhammā kiṁsukā vīṇā,
chappāṇā yavakalāpīti.
Saḷāyatanavagge catutthapaṇṇāsako samatto.
Tassa vagguddānaṁ
Nandikkhayo saṭṭhinayo,
samuddo uragena ca;
Catupaṇṇāsakā ete,
nipātesu pakāsitāti.
Saḷāyatanasaṁyuttaṁ samattaṁ.
SC 1“Bhikkhus, suppose a sheaf of barley were set down at a crossroads. Then six men would come along with flails in their hands and they would strike that sheaf of barley with the six flails. Thus that sheaf of barley would be well struck, having been struck by the six flails. Then a seventh man would come along with a flail in his hand and he would strike that sheaf of barley with the seventh flail. Thus that sheaf of barley would be struck even still more thoroughly, having been struck by the seventh flail.
SC 2“So too, bhikkhus, the uninstructed worldling is struck in the eye by agreeable and disagreeable forms; struck in the ear by agreeable and disagreeable sounds; struck in the nose by agreeable and disagreeable odours; struck in the tongue by agreeable and disagreeable tastes; struck in the body by agreeable and disagreeable tactile objects; struck in the mind by agreeable and disagreeable mental phenomena. If that uninstructed worldling sets his mind upon future renewed existence, then that senseless man is struck even still more thoroughly, just like the sheaf of barley struck by the seventh flail.
SC 3“Once in the past, bhikkhus, the devas and the asuras were arrayed for battle. Then Vepacitti, lord of the asuras, addressed the asuras thus: ‘Good sirs, if in this impending battle the asuras win and the devas are defeated, bind Sakka, lord of the devas, by his four limbs and neck and bring him to me in the city of the asuras.’ And Sakka, lord of the devas, addressed the Tavatiṁsa devas: ‘Good sirs, if in this impending battle the devas win and the asuras are defeated, bind Vepacitti, lord of the asuras, by his four limbs and neck and bring him to me in Sudhamma, the assembly hall of the devas.’
SC 4“In that battle the devas won and the asuras were defeated. sn.iv.202 Then the Tavatiṁsa devas bound Vepacitti by his four limbs and neck and brought him to Sakka in Sudhamma, the assembly hall of the devas. And there Vepacitti, lord of the asuras, was bound by his four limbs and neck.
SC 5“When it occurred to Vepacitti: ‘The devas are righteous, the asuras are unrighteous; now right here I have gone to the city of the devas,’ he then saw himself freed from the bonds around his limbs and neck and he enjoyed himself furnished and endowed with the five cords of divine sensual pleasure. But when it occurred to him: ‘The asuras are righteous, the devas are unrighteous; now I will go there to the city of the asuras,’ then he saw himself bound by his four limbs and neck and he was deprived of the five cords of divine sensual pleasure.
SC 6“So subtle, bhikkhus, was the bondage of Vepacitti, but even subtler than that is the bondage of Mara. In conceiving, one is bound by Mara; by not conceiving, one is freed from the Evil One.
SC 7“Bhikkhus, ‘I am’ is a conceiving; ‘I am this’ is a conceiving; ‘I shall be’ is a conceiving; ‘I shall not be’ is a conceiving; ‘I shall consist of form’ is a conceiving; ‘I shall be formless’ is a conceiving; ‘I shall be percipient’ is a conceiving; ‘I shall be nonpercipient’ is a conceiving; ‘I shall be neither percipient nor nonpercipient’ is a conceiving. Conceiving is a disease, conceiving is a tumour, conceiving is a dart. Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will dwell with a mind devoid of conceiving.’
SC 8“Bhikkhus, ‘I am’ is a perturbation; ‘I am this’ is a perturbation; ‘I shall be’ is a perturbation … ‘I shall be neither percipient nor nonpercipient’ is a perturbation. Perturbation sn.iv.203 is a disease, perturbation is a tumour, perturbation is a dart. Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will dwell with an imperturbable mind.’
SC 9“Bhikkhus, ‘I am’ is a palpitation; ‘I am this’ is a palpitation; ‘I shall be’ is a palpitation … ‘I shall be neither percipient nor nonpercipient’ is a palpitation. Palpitation is a disease, palpitation is a tumour, palpitation is a dart. Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will dwell with a mind devoid of palpitation. ’
SC 10“Bhikkhus, ‘I am’ is a proliferation; ‘I am this’ is a proliferation; ‘I shall be’ is a proliferation … ‘I shall be neither percipient nor nonpercipient’ is a proliferation. Proliferation is a disease, proliferation is a tumour, proliferation is a dart. Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will dwell with a mind devoid of proliferation.’
SC 11“Bhikkhus, ‘I am’ is an involvement with conceit; ‘I am this’ is an involvement with conceit; ‘I shall be’ is an involvement with conceit; ‘I shall not be’ is an involvement with conceit; ‘I shall consist of form’ is an involvement with conceit; ‘I shall be formless’ is an involvement with conceit ; ‘I shall be percipient’ is an involvement with conceit; ‘I shall be nonpercipient’ is an involvement with conceit; ‘I shall be neither percipient nor nonpercipient’ is an involvement with conceit. Involvement with conceit is a disease, involvement with conceit is a tumour, involvement with conceit is a dart. Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will dwell with a mind in which conceit has been struck down.’ Thus should you train yourselves.”
sn.iv.204
Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một bó lúa quăng tại ngã tư đường, rồi sáu người đến, tay cầm cái đập và họ đập bó lúa ấy với sáu cái đập (vyàkggì)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy được khéo đập với sáu cái đập ấy. Rồi một người thứ bảy đến, tay cầm cái đập, và người ấy đập bó lúa ấy với cái đập thứ bảy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại càng được khéo đập với cái đập thứ bảy.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị đập trong con mắt bởi những sắc khả ái và không khả ái … bị đập trong lưỡi bởi những vị khả ái và không khả ái … bị đập trong ý bởi những pháp khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu kẻ vô văn phàm phu ấy lại nghĩ đến tái sanh trong tương lai, như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại càng bị khéo đập hơn nữa. Ví như, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại được đập với cái đập thứ bảy nữa.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt.
Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua A-tu-la gọi các A-tu-la: “Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la”. Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba: “Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất là khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói vua A-tu-la Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.
Vi-n 6 Nhưng trận chiến ấy, chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường Sudhamma.
Vi-n 7 Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua A-tu-la Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua A-tu-la Vepacitti suy nghĩ như sau: “Chư Thiên theo Chánh pháp, còn A-tu-la theo phi pháp. Nay ta đi đến thành của chư Thiên”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình được cởi trói hai chân, hai tay và thứ năm là cổ, và được hưởng thọ, được thưởng thức đầy đủ năm dục công đức cõi trời. Và này các Tỷ-kheo, khi vua A-tu-la suy nghĩ như sau: “Các A-tu-la theo Chánh pháp, chư Thiên theo phi pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến thành của các A-tu-la”, thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và bị tước bỏ năm dục công đức cõi trời.
Vi-n 8 Như vậy, này các Tỷ-kheo, thật tế nhị là sự trói buộc của Vepacitti, và còn tế nhị hơn là sự trói buộc của Māra. Ai có tư tưởng (Mannamàna), người ấy bị Māra trói buộc. Ai không có tư tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Cái này là tôi”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ là”, này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không là”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có sắc”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ có tưởng”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một tư tưởng. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một tư tưởng. Có tư tưởng, này các Tỷ-kheo, là tham. Có tư tưởng là mụt nhọt. Có tư tưởng là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có tư tưởng”.
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một động chuyển (injitam). “Cái này là tôi”, là một động chuyển. “Tôi sẽ là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không là”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có sắc”, là một động chuyển. “Tôi sẽ có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một động chuyển. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỷ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển”.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một chấn động (phanditam). “Cái này là tôi”, là một chấn động. “Tôi sẽ là”, là một chấn động. “Tôi sẽ không là”, là một chấn động. “Tôi sẽ có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có sắc”, là một chấn động. “Tôi sẽ có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một chấn động. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một chấn động. Chấn động, này các Tỷ-kheo, là tham. Chấn động là mụt nhọt. Chấn động là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không chấn động”.
Vi-n 11 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một hý luận (papancitam). “Cái này là tôi”, là một hý luận. “Tôi sẽ là”, là một hý luận. “Tôi sẽ không là”, là một hý luận. “Tôi sẽ có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có sắc”, là một hý luận. “Tôi sẽ có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một hý luận. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một hý luận. Hý luận, này các Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là mụt nhọt. Hý luận là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm không có hý luận”.
Vi-n 12 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: “Tôi là”, này các Tỷ-kheo, là một ngã mạn. “Cái này là tôi”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không là”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có sắc”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng”, là một ngã mạn. “Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng”, là một ngã mạn. Ngã mạn, này các Tỷ-kheo, là tham. Ngã mạn là mụt nhọt. Ngã mạn là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: “Tôi sẽ sống với tâm trừ bỏ ngã mạn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
“Seyyathāpi, bhikkhave, yavakalāpī cātumahāpathe nikkhittā assa.
Atha cha purisā āgaccheyyuṁ byābhaṅgihatthā.
Te yavakalāpiṁ chahi byābhaṅgīhi haneyyuṁ.
Evañhi sā, bhikkhave, yavakalāpī suhatā assa chahi byābhaṅgīhi haññamānā.
Atha sattamo puriso āgaccheyya byābhaṅgihattho.
So taṁ yavakalāpiṁ sattamāya byābhaṅgiyā haneyya.
Evañhi sā bhikkhave, yavakalāpī suhatatarā assa, sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano cakkhusmiṁ haññati manāpāmanāpehi rūpehi …pe…
jivhāya haññati manāpāmanāpehi rasehi …pe…
manasmiṁ haññati manāpāmanāpehi dhammehi.
Sace so, bhikkhave, assutavā puthujjano āyatiṁ punabbhavāya ceteti, evañhi so, bhikkhave, moghapuriso suhatataro hoti, seyyathāpi sā yavakalāpī sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo asure āmantesi:
‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe asurā jineyyuṁ devā parājineyyuṁ, yena naṁ sakkaṁ devānamindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha asurapuran’ti.
Sakkopi kho, bhikkhave, devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe devā jineyyuṁ asurā parājineyyuṁ, yena naṁ vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha sudhammaṁ devasabhan’ti.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu.
Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā sakkassa devānamindassa santike ānesuṁ sudhammaṁ devasabhaṁ.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vepacitti asurindo kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho hoti.
Yadā kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṁ hoti:
‘dhammikā kho devā, adhammikā asurā, idheva dānāhaṁ devapuraṁ gacchāmī’ti.
Atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi muttaṁ attānaṁ samanupassati, dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Yadā ca kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṁ hoti:
‘dhammikā kho asurā, adhammikā devā, tattheva dānāhaṁ asurapuraṁ gamissāmī’ti.
atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddhaṁ attānaṁ samanupassati, dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi parihāyati.
Evaṁ sukhumaṁ kho, bhikkhave, vepacittibandhanaṁ.
Tato sukhumataraṁ mārabandhanaṁ.
Maññamāno kho, bhikkhave, baddho mārassa, amaññamāno mutto pāpimato.
‘Asmī’ti, bhikkhave, maññitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti maññitametaṁ, ‘bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘na bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti maññitametaṁ.
Maññitaṁ, bhikkhave, rogo, maññitaṁ gaṇḍo, maññitaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘amaññamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, iñjitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti iñjitametaṁ, ‘bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘na bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti iñjitametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti iñjitametaṁ.
Iñjitaṁ, bhikkhave, rogo, iñjitaṁ gaṇḍo, iñjitaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘aniñjamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, phanditametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti phanditametaṁ, ‘bhavissan’ti …pe… ‘na bhavissan’ti … ‘rūpī bhavissan’ti … ‘arūpī bhavissan’ti … ‘saññī bhavissan’ti … ‘asaññī bhavissan’ti … ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti phanditametaṁ.
Phanditaṁ, bhikkhave, rogo, phanditaṁ gaṇḍo, phanditaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘aphandamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, papañcitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti papañcitametaṁ, ‘bhavissan’ti …pe… ‘na bhavissan’ti … ‘rūpī bhavissan’ti … ‘arūpī bhavissan’ti … ‘saññī bhavissan’ti … ‘asaññī bhavissan’ti … ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti papañcitametaṁ.
Papañcitaṁ, bhikkhave, rogo, papañcitaṁ gaṇḍo, papañcitaṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘nippapañcena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘Asmī’ti, bhikkhave, mānagatametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti mānagatametaṁ, ‘bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘na bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti mānagatametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti mānagatametaṁ.
Mānagataṁ, bhikkhave, rogo, mānagataṁ gaṇḍo, mānagataṁ sallaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘nihatamānena cetasā viharissāmā’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Ekādasamaṁ.
Āsīvisavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Āsīviso ratho kummo,
dve dārukkhandhā avassuto;
Dukkhadhammā kiṁsukā vīṇā,
chappāṇā yavakalāpīti.
Saḷāyatanavagge catutthapaṇṇāsako samatto.
Tassa vagguddānaṁ
Nandikkhayo saṭṭhinayo,
samuddo uragena ca;
Catupaṇṇāsakā ete,
nipātesu pakāsitāti.
Saḷāyatanasaṁyuttaṁ samattaṁ.