Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kūru, tại một thị trấn của dân chúng Kūru tên là Kammāsadhamma.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, sâu xa thay là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Nhưng đối với con định lý ấy có vẻ rõ ràng, minh bạch!
Vi-n 4 —Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Sâu xa thay, này Ānanda là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Này Ānanda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập pháp này mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 5 Này Ānanda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, hữu có mặt. Do duyên hữu, sanh có mặt. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 6 Này Ānanda, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm xuống và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều hút lên nhựa sống cho cây ấy. Này Ānanda, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.
Vi-n 7 Cũng vậy, này Ānanda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ có mặt. Do duyên thủ, hữu có mặt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 8 Này Ānanda, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 9 Này Ānanda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ānanda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.
Vi-n 10 Như vậy, này Ānanda, ai sống thấy tai hại trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva gambhīro cāyaṁ, bhante, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca, atha ca pana me uttānakuttānako viya khāyatī”ti.
“Mā hevaṁ, ānanda, mā hevaṁ, ānanda.
Gambhīro cāyaṁ, ānanda, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca.
Etassa, ānanda, dhammassa ananubodhā appaṭivedhā evamayaṁ pajā tantākulakajātā kulagaṇṭhikajātā muñjapabbajabhūtā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ saṁsāraṁ nātivattati.
Upādāniyesu, ānanda, dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati.
Taṇhāpaccayā upādānaṁ;
upādānapaccayā bhavo;
bhavapaccayā jāti;
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho.
Tassa yāni ceva mūlāni adhogamāni, yāni ca tiriyaṅgamāni, sabbāni tāni uddhaṁ ojaṁ abhiharanti.
Evañhi so, ānanda, mahārukkho tadāhāro tadupādāno ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya.
Evameva kho, ānanda, upādāniyesu dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati.
Taṇhāpaccayā upādānaṁ;
upādānapaccayā bhavo …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Upādāniyesu, ānanda, dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā nirujjhati.
Taṇhānirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho.
Atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya.
So taṁ rukkhaṁ mūle chindeyya, mūle chetvā palikhaṇeyya, palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya antamaso usīranāḷimattānipi.
So taṁ rukkhaṁ khaṇḍākhaṇḍikaṁ chindeyya.
Khaṇḍākhaṇḍikaṁ chinditvā phāleyya;
phāletvā sakalikaṁ sakalikaṁ kareyya, sakalikaṁ sakalikaṁ karitvā vātātape visoseyya, vātātape visosetvā agginā ḍaheyya, agginā ḍahetvā masiṁ kareyya, masiṁ karitvā mahāvāte vā ophuṇeyya, nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya.
Evañhi so, ānanda, mahārukkho ucchinnamūlo assa tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
Evameva kho, ānanda, upādāniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā nirujjhati.
Taṇhānirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho;
bhavanirodhā jātinirodho;
jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Dasamaṁ.
Dukkhavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Parivīmaṁsanupādānaṁ,
dve ca saṁyojanāni ca;
Mahārukkhena dve vuttā,
taruṇena ca sattamaṁ;
Nāmarūpañca viññāṇaṁ,
nidānena ca te dasāti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Kurus, where there was a town of the Kurus named Kammasadamma. Then the Venerable Ānanda approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 2“It is wonderful, venerable sir! It is amazing, venerable sir! This dependent origination is so deep and so deep in implications, yet to me it seems as clear as clear can be.”
SC 3“Not so, Ānanda! Not so, Ānanda! This dependent origination is deep and deep in implications. It is because of not understanding and not penetrating this Dhamma, Ānanda, that this generation has become like a tangled skein, like a knotted ball of thread, like matted reeds and rushes, and does not pass beyond the plane of misery, the bad destinations, the nether world, saṁsara.
SC 4“Ānanda, when one dwells contemplating gratification in things that can be clung to, craving increases. With craving as condition, sn.ii.93 clinging comes to be…. Such is the origin of this whole mass of suffering.
SC 5“Suppose, Ānanda, there was a great tree, and all its roots going downwards and across would send the sap upwards. Sustained by that sap, nourished by it, that great tree would stand for a very long time. So too, when one lives contemplating gratification in things that can be clung to, craving increases…. Such is the origin of this whole mass of suffering.
SC 6“When, Ānanda, one dwells contemplating danger in things that can be clung to, craving ceases. With the cessation of craving comes cessation of clinging…. Such is the cessation of this whole mass of suffering.
SC 7“Suppose, Ānanda, there was a great tree. Then a man would come along bringing a shovel and a basket. He would cut down the tree at its foot … he would winnow the ashes in a strong wind or let them be carried away by the swift current of a river. Thus that great tree would be cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that it is no more subject to future arising.
SC 8“So too, Ānanda, when one dwells contemplating danger in things that can be clung to, craving ceases. With the cessation of craving comes cessation of clinging; with the cessation of clinging, cessation of existence; with the cessation of existence, cessation of birth; with the cessation of birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair cease. Such is the cessation of this whole mass of suffering.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kūru, tại một thị trấn của dân chúng Kūru tên là Kammāsadhamma.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, sâu xa thay là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Nhưng đối với con định lý ấy có vẻ rõ ràng, minh bạch!
Vi-n 4 —Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Sâu xa thay, này Ānanda là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Này Ānanda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập pháp này mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 5 Này Ānanda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, hữu có mặt. Do duyên hữu, sanh có mặt. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 6 Này Ānanda, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm xuống và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều hút lên nhựa sống cho cây ấy. Này Ānanda, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.
Vi-n 7 Cũng vậy, này Ānanda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ có mặt. Do duyên thủ, hữu có mặt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 8 Này Ānanda, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 9 Này Ānanda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ānanda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.
Vi-n 10 Như vậy, này Ānanda, ai sống thấy tai hại trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva gambhīro cāyaṁ, bhante, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca, atha ca pana me uttānakuttānako viya khāyatī”ti.
“Mā hevaṁ, ānanda, mā hevaṁ, ānanda.
Gambhīro cāyaṁ, ānanda, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca.
Etassa, ānanda, dhammassa ananubodhā appaṭivedhā evamayaṁ pajā tantākulakajātā kulagaṇṭhikajātā muñjapabbajabhūtā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ saṁsāraṁ nātivattati.
Upādāniyesu, ānanda, dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati.
Taṇhāpaccayā upādānaṁ;
upādānapaccayā bhavo;
bhavapaccayā jāti;
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho.
Tassa yāni ceva mūlāni adhogamāni, yāni ca tiriyaṅgamāni, sabbāni tāni uddhaṁ ojaṁ abhiharanti.
Evañhi so, ānanda, mahārukkho tadāhāro tadupādāno ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya.
Evameva kho, ānanda, upādāniyesu dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati.
Taṇhāpaccayā upādānaṁ;
upādānapaccayā bhavo …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Upādāniyesu, ānanda, dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā nirujjhati.
Taṇhānirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho.
Atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya.
So taṁ rukkhaṁ mūle chindeyya, mūle chetvā palikhaṇeyya, palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya antamaso usīranāḷimattānipi.
So taṁ rukkhaṁ khaṇḍākhaṇḍikaṁ chindeyya.
Khaṇḍākhaṇḍikaṁ chinditvā phāleyya;
phāletvā sakalikaṁ sakalikaṁ kareyya, sakalikaṁ sakalikaṁ karitvā vātātape visoseyya, vātātape visosetvā agginā ḍaheyya, agginā ḍahetvā masiṁ kareyya, masiṁ karitvā mahāvāte vā ophuṇeyya, nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya.
Evañhi so, ānanda, mahārukkho ucchinnamūlo assa tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
Evameva kho, ānanda, upādāniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā nirujjhati.
Taṇhānirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho;
bhavanirodhā jātinirodho;
jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Dasamaṁ.
Dukkhavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Parivīmaṁsanupādānaṁ,
dve ca saṁyojanāni ca;
Mahārukkhena dve vuttā,
taruṇena ca sattamaṁ;
Nāmarūpañca viññāṇaṁ,
nidānena ca te dasāti.