Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Bhikkhaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, con là người khất thực và Tôn giả cũng là người khất thực. Vậy có sự sai khác gì giữa chúng ta?
Vi-n 4 (Thế Tôn):
Không phải ai xin ăn,
Cũng gọi là khất sĩ.
Nếu chấp trì độc pháp,
Không còn gọi Tỷ-kheo.
Ai sống ở đời này,
Từ bỏ các phước báo,
Ðoạn trừ mọi ác pháp,
Hành trì theo Phạm hạnh,
Sống đời sống chánh trí,
Vị ấy xứng “Tỷ-kheo”.
Vi-n 5 Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho bhikkhako brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho bhikkhako brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bho gotama, bhikkhako, bhavampi bhikkhako, idha no kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Na tena bhikkhako hoti,
yāvatā bhikkhate pare;
Vissaṁ dhammaṁ samādāya,
bhikkhu hoti na tāvatā.
Yodha puññañca pāpañca,
bāhitvā brahmacariyaṁ;
Saṅkhāya loke carati,
sa ve bhikkhūti vuccatī”ti.
Evaṁ vutte, bhikkhako brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
At Sāvatthī.
Then a brahmin almsman went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,
“Worthy Gotama, both you and I are almsmen. What, then, is the difference between us?”
“You don’t become an almsman
just by begging alms from others.
One who has undertaken domestic duties
has not yet become a mendicant.
But one living a spiritual life
who has banished both merit and evil,
and wanders having appraised the world,
is said to be a mendicant.”
When he had spoken, the brahmin almsman said to the Buddha,
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! …
From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Bhikkhaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, con là người khất thực và Tôn giả cũng là người khất thực. Vậy có sự sai khác gì giữa chúng ta?
Vi-n 4 (Thế Tôn):
Không phải ai xin ăn,
Cũng gọi là khất sĩ.
Nếu chấp trì độc pháp,
Không còn gọi Tỷ-kheo.
Ai sống ở đời này,
Từ bỏ các phước báo,
Ðoạn trừ mọi ác pháp,
Hành trì theo Phạm hạnh,
Sống đời sống chánh trí,
Vị ấy xứng “Tỷ-kheo”.
Vi-n 5 Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho bhikkhako brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho bhikkhako brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bho gotama, bhikkhako, bhavampi bhikkhako, idha no kiṁ nānākaraṇan”ti?
“Na tena bhikkhako hoti,
yāvatā bhikkhate pare;
Vissaṁ dhammaṁ samādāya,
bhikkhu hoti na tāvatā.
Yodha puññañca pāpañca,
bāhitvā brahmacariyaṁ;
Saṅkhāya loke carati,
sa ve bhikkhūti vuccatī”ti.
Evaṁ vutte, bhikkhako brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.