Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi (Xá-vệ).
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết và phân tích cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Ðây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Ðây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già, chết.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu? Này các Tỷ-kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu.
Vi-n 7 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ? Này các Tỷ-kheo, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này các Tỷ—kheo, đây gọi là thủ.
Vi-n 8 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỷ-kheo, có sáu ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ—kheo, đây gọi là ái.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ này: thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.
Vi-n 10 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xúc.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sáu xứ.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy, đây là danh, đây là sắc. Ðây gọi là danh sắc.
Vi-n 13 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức.
Vi-n 14 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.
Vi-n 16 Như vậy này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Paṭiccasamuppādaṁ vo, bhikkhave, desessāmi vibhajissāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamo ca, bhikkhave, paṭiccasamuppādo?
Avijjāpaccayā, bhikkhave, saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ;
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ;
saḷāyatanapaccayā phasso;
phassapaccayā vedanā;
vedanāpaccayā taṇhā;
taṇhāpaccayā upādānaṁ;
upādānapaccayā bhavo;
bhavapaccayā jāti;
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ?
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko;
ayaṁ vuccati jarā.
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo (…),
idaṁ vuccati maraṇaṁ.
Iti ayañca jarā, idañca maraṇaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ.
Katamā ca, bhikkhave, jāti?
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ pātubhāvo āyatanānaṁ paṭilābho.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, jāti.
Katamo ca, bhikkhave, bhavo?
Tayome, bhikkhave, bhavā—
kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhavo.
Katamañca, bhikkhave, upādānaṁ?
Cattārimāni, bhikkhave, upādānāni—
kāmupādānaṁ, diṭṭhupādānaṁ, sīlabbatupādānaṁ, attavādupādānaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, upādānaṁ.
Katamā ca, bhikkhave, taṇhā?
Chayime, bhikkhave, taṇhākāyā—
rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, taṇhā.
Katamā ca, bhikkhave, vedanā?
Chayime, bhikkhave, vedanākāyā—
cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, vedanā.
Katamo ca, bhikkhave, phasso?
Chayime, bhikkhave, phassakāyā—
cakkhusamphasso, sotasamphasso, ghānasamphasso, jivhāsamphasso, kāyasamphasso, manosamphasso.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, phasso.
Katamañca, bhikkhave, saḷāyatanaṁ?
Cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ—
idaṁ vuccati, bhikkhave, saḷāyatanaṁ.
Katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṁ?
Vedanā, saññā, cetanā, phasso, manasikāro—
idaṁ vuccati nāmaṁ.
Cattāro ca mahābhūtā, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpaṁ.
Idaṁ vuccati rūpaṁ.
Iti idañca nāmaṁ, idañca rūpaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, nāmarūpaṁ.
Katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ?
Chayime, bhikkhave, viññāṇakāyā—
cakkhuviññāṇaṁ, sotaviññāṇaṁ, ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ, kāyaviññāṇaṁ, manoviññāṇaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, viññāṇaṁ.
Katame ca, bhikkhave, saṅkhārā?
Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro.
Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā.
Katamā ca, bhikkhave, avijjā?
Yaṁ kho, bhikkhave, dukkhe aññāṇaṁ, dukkhasamudaye aññāṇaṁ, dukkhanirodhe aññāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṁ.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, avijjā.
Iti kho, bhikkhave, avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho;
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, I will teach you dependent origination and I will analyse it for you. Listen to that and attend closely, I will speak.”
SC 2“Yes, venerable sir,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“And what, bhikkhus, is dependent origination? With ignorance as condition, volitional formations come to be; with volitional formations, consciousness … as in preceding sutta … Such is the origin of this whole mass of suffering.
SC 4“And what, bhikkhus, is aging-and-death? The aging of the various beings in the various orders of beings, their growing old, brokenness of teeth, greyness of hair, wrinkling of skin, decline of vitality, degeneration of the faculties: this is called aging. sn.ii.3 The passing away of the various beings from the various orders of beings, their perishing, breakup, disappearance, mortality, death, completion of time, the breakup of the aggregates, the laying down of the carcass: this is called death. Thus this aging and this death are together called aging-and-death.
SC 5“And what, bhikkhus, is birth? The birth of the various beings into the various orders of beings, their being born, descent into the womb, production, the manifestation of the aggregates, the obtaining of the sense bases. This is called birth.
SC 6“And what, bhikkhus, is existence? There are these three kinds of existence: sense-sphere existence, form-sphere existence, formless-sphere existence. This is called existence.
SC 7“And what, bhikkhus, is clinging? There are these four kinds of clinging: clinging to sensual pleasures, clinging to views, clinging to rules and vows, clinging to a doctrine of self. This is called clinging.
SC 8“And what, bhikkhus, is craving? There are these six classes of craving: craving for forms, craving for sounds, craving for odours, craving for tastes, craving for tactile objects, craving for mental phenomena. This is called craving.
SC 9“And what, bhikkhus, is feeling? There are these six classes of feeling: feeling born of eye-contact, feeling born of ear-contact, feeling born of nose-contact, feeling born of tongue-contact, feeling born of body-contact, feeling born of mind-contact. This is called feeling.
SC 10“And what, bhikkhus, is contact? There are these six classes of contact: eye-contact, ear-contact, nose-contact, tongue-contact, body-contact, mind-contact. This is called contact.
SC 11“And what, bhikkhus, are the six sense bases? The eye base, the ear base, the nose base, the tongue base, the body base, the mind base. These are called the six sense bases.
SC 12“And what, bhikkhus, is name-and-form? Feeling, perception, volition, contact, attention: this is called name. The four sn.ii.4 great elements and the form derived from the four great elements: this is called form. Thus this name and this form are together called name-and-form.
SC 13“And what, bhikkhus, is consciousness? There are these six classes of consciousness: eye-consciousness, ear-consciousness, nose-consciousness, tongue-consciousness, body-consciousness, mind-consciousness. This is called consciousness.
SC 14“And what, bhikkhus, are the volitional formations? There are these three kinds of volitional formations: the bodily volitional formation, the verbal volitional formation, the mental volitional formation. These are called the volitional formations.
SC 15“And what, bhikkhus, is ignorance? Not knowing suffering, not knowing the origin of suffering, not knowing the cessation of suffering, not knowing the way leading to the cessation of suffering. This is called ignorance.
SC 16“Thus, bhikkhus, with ignorance as condition, volitional formations come to be; with volitional formations as condition, consciousness…. Such is the origin of this whole mass of suffering. But with the remainderless fading away and cessation of ignorance comes cessation of volitional formations; with the cessation of volitional formations, cessation of consciousness…. Such is the cessation of this whole mass of suffering.”
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi (Xá-vệ).
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết và phân tích cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ tàn lụi, các căn chín muồi. Ðây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Ðây gọi là chết. Như vậy, đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già, chết.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sanh.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu? Này các Tỷ-kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hữu.
Vi-n 7 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ? Này các Tỷ-kheo, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này các Tỷ—kheo, đây gọi là thủ.
Vi-n 8 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỷ-kheo, có sáu ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ—kheo, đây gọi là ái.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ này: thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.
Vi-n 10 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc? Này các Tỷ-kheo, có sáu xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xúc.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sáu xứ.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy, đây là danh, đây là sắc. Ðây gọi là danh sắc.
Vi-n 13 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức.
Vi-n 14 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.
Vi-n 16 Như vậy này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Paṭiccasamuppādaṁ vo, bhikkhave, desessāmi vibhajissāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamo ca, bhikkhave, paṭiccasamuppādo?
Avijjāpaccayā, bhikkhave, saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ;
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ;
saḷāyatanapaccayā phasso;
phassapaccayā vedanā;
vedanāpaccayā taṇhā;
taṇhāpaccayā upādānaṁ;
upādānapaccayā bhavo;
bhavapaccayā jāti;
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ?
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko;
ayaṁ vuccati jarā.
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo (…),
idaṁ vuccati maraṇaṁ.
Iti ayañca jarā, idañca maraṇaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ.
Katamā ca, bhikkhave, jāti?
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ pātubhāvo āyatanānaṁ paṭilābho.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, jāti.
Katamo ca, bhikkhave, bhavo?
Tayome, bhikkhave, bhavā—
kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhavo.
Katamañca, bhikkhave, upādānaṁ?
Cattārimāni, bhikkhave, upādānāni—
kāmupādānaṁ, diṭṭhupādānaṁ, sīlabbatupādānaṁ, attavādupādānaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, upādānaṁ.
Katamā ca, bhikkhave, taṇhā?
Chayime, bhikkhave, taṇhākāyā—
rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, taṇhā.
Katamā ca, bhikkhave, vedanā?
Chayime, bhikkhave, vedanākāyā—
cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, vedanā.
Katamo ca, bhikkhave, phasso?
Chayime, bhikkhave, phassakāyā—
cakkhusamphasso, sotasamphasso, ghānasamphasso, jivhāsamphasso, kāyasamphasso, manosamphasso.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, phasso.
Katamañca, bhikkhave, saḷāyatanaṁ?
Cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ—
idaṁ vuccati, bhikkhave, saḷāyatanaṁ.
Katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṁ?
Vedanā, saññā, cetanā, phasso, manasikāro—
idaṁ vuccati nāmaṁ.
Cattāro ca mahābhūtā, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpaṁ.
Idaṁ vuccati rūpaṁ.
Iti idañca nāmaṁ, idañca rūpaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, nāmarūpaṁ.
Katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ?
Chayime, bhikkhave, viññāṇakāyā—
cakkhuviññāṇaṁ, sotaviññāṇaṁ, ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ, kāyaviññāṇaṁ, manoviññāṇaṁ.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, viññāṇaṁ.
Katame ca, bhikkhave, saṅkhārā?
Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro.
Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā.
Katamā ca, bhikkhave, avijjā?
Yaṁ kho, bhikkhave, dukkhe aññāṇaṁ, dukkhasamudaye aññāṇaṁ, dukkhanirodhe aññāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṁ.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, avijjā.
Iti kho, bhikkhave, avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho;
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Dutiyaṁ.