Vi-n 1 Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão trú ở Bārānasī, Isipatana, vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Channa, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác và nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:
—Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy được pháp.
Vi-n 3 Ðược nói vậy, các vị Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Channa:
—Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ là vô thường; tưởng là vô thường; các hành là vô thường; thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ như sau: “Ta cũng suy nghĩ như vầy: ‘Sắc là vô thường; thọ … tưởng … các hành … thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả pháp là vô ngã.’
Vi-n 5 Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến (paritassanà), chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: ‘Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?”
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ: “Ðây là Tôn giả Ānanda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ānanda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp. Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ānanda. Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda!”
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Channa, sau khi dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát đi đến Kosambi, vườn Ghosita, chỗ Tôn giả Ānanda ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Channa nói với Tôn giả Ānanda:
—Một thời, này Hiền giả Ānanda, tôi ở Bārānasī, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi vào buổi chiều, này Hiền giả, tôi từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chiếc chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão: “Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp”.
Vi-n 9 Ðược nghe nói vậy, này Hiền giả, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với tôi: “Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ … tưởng … các hành … thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã”.
Vi-n 10 Về vấn đề ấy, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ta cũng suy nghĩ như vầy: ‘Sắc là vô thường … thức là vô thường. Sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã’.
Vi-n 11 Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến, chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: ‘Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?”
Vi-n 12 Rồi về vấn đề này, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ðây là Tôn giả Ānanda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ānanda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp! Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ānanda! Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda”.
Vi-n 13 Tôn giả Ānanda hãy giáo giới cho tôi! Tôn giả Ānanda hãy giảng dạy cho tôi! Tôn giả Ānanda hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp.
Vi-n 14 —Cho đến như vậy, thật sự tôi rất hoan hỷ đối với Tôn giả Channa. Tôn giả Channa đã làm cho sự việc rõ ràng. Tôn giả Channa đã phá vỡ chướng ngại. Hãy lóng tai, này Hiền giả Channa! Hiền giả có thể hiểu được Chánh pháp.
Vi-n 15 Ngay lúc ấy, Tôn giả Channa khởi lên hoan hỷ, hân hoan thù thắng khi nghe đến: “Ta có thể hiểu được pháp”.
Vi-n 16 —Này Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo giới này cho Kaccànaghotta: “Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccāna, hiện hữu và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi của thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu! Nhưng này Kaccāna, ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt của thế giới, thì cũng không chấp nhận là thế giới có hiện hữu. Thế giới này phần lớn, này Kaccāna, là chấp thủ các phương tiện và bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp thủ, không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú vào thiên kiến tùy miên, vị ấy không nói: ‘Ðây là tự ngã của tôi”. Với ai nghĩ rằng: ‘Cái gì khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’, vị ấy không có phân vân, nghi hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác. Cho đến như vậy, này Kaccāna, là chánh trí”.
Vi-n 17 “‘Tất cả đều có ‘, này Kaccāna, là một cực đoan. ‘Tất cả đều không có' là một cực đoan. Không chấp nhận hai cực đoan ấy, này Kaccāna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do duyên vô minh, nên hành khởi. Do duyên hành, nên thức khởi … Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn nên các hành diệt … Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này”.
Vi-n 18 —Như vậy, này Hiền giả Ānanda, là điều sẽ đến với các bậc Tôn giả nào có được những đồng Phạm hạnh như vậy, những vị có lòng từ mẫn, những vị muốn sự lợi ích, những vị giáo giới, những vị giảng dạy, nghe được lời thuyết pháp này từ Tôn giả Ānanda, tôi được an trú vững chắc trong Chánh pháp.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā therā bhikkhū bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā channo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito avāpuraṇaṁ ādāya vihārena vihāraṁ upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavoca:
“ovadantu maṁ āyasmanto therā, anusāsantu maṁ āyasmanto therā, karontu me āyasmanto therā dhammiṁ kathaṁ, yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan”ti.
Evaṁ vutte, therā bhikkhū āyasmantaṁ channaṁ etadavocuṁ:
“rūpaṁ kho, āvuso channa, aniccaṁ;
vedanā aniccā;
saññā aniccā;
saṅkhārā aniccā;
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Rūpaṁ anattā;
vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā;
sabbe dhammā anattā”ti.
Atha kho āyasmato channassa etadahosi:
“mayhampi kho etaṁ evaṁ hoti:
‘rūpaṁ aniccaṁ, vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ;
rūpaṁ anattā, vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti.
Atha ca pana me sabbasaṅkhārasamathe sabbūpadhipaṭinissagge taṇhākkhaye virāge nirodhe nibbāne cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Paritassanā upādānaṁ uppajjati;
paccudāvattati mānasaṁ:
‘atha ko carahi me attā’ti?
Na kho panevaṁ dhammaṁ passato hoti.
Ko nu kho me tathā dhammaṁ deseyya yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan”ti.
Atha kho āyasmato channassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ, pahoti ca me āyasmā ānando tathā dhammaṁ desetuṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyaṁ;
atthi ca me āyasmante ānande tāvatikā vissaṭṭhi.
Yannūnāhaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho āyasmā channo senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena kosambī ghositārāmo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā channo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Ekamidāhaṁ, āvuso ānanda, samayaṁ bārāṇasiyaṁ viharāmi isipatane migadāye.
Atha khvāhaṁ, āvuso, sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito avāpuraṇaṁ ādāya vihārena vihāraṁ upasaṅkamiṁ;
upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavocaṁ:
‘ovadantu maṁ āyasmanto therā, anusāsantu maṁ āyasmanto therā, karontu me āyasmanto therā dhammiṁ kathaṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan’ti.
Evaṁ vutte, maṁ, āvuso, therā bhikkhū etadavocuṁ:
‘rūpaṁ kho, āvuso channa, aniccaṁ;
vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ;
rūpaṁ anattā …pe…
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘mayhampi kho etaṁ evaṁ hoti—
rūpaṁ aniccaṁ …pe…
viññāṇaṁ aniccaṁ, rūpaṁ anattā, vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti.
Atha ca pana me sabbasaṅkhārasamathe sabbūpadhipaṭinissagge taṇhākkhaye virāge nirodhe nibbāne cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Paritassanā upādānaṁ uppajjati;
paccudāvattati mānasaṁ:
‘atha ko carahi me attā’ti?
Na kho panevaṁ dhammaṁ passato hoti.
Ko nu kho me tathā dhammaṁ deseyya yathāhaṁ dhammaṁ passeyyanti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘ayaṁ kho āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ, pahoti ca me āyasmā ānando tathā dhammaṁ desetuṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyaṁ.
Atthi ca me āyasmante ānande tāvatikā vissaṭṭhi.
Yannūnāhaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyan’ti.
Ovadatu maṁ, āyasmā ānando;
anusāsatu maṁ, āyasmā ānando;
karotu me, āyasmā ānando dhammiṁ kathaṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan”ti.
“Ettakenapi mayaṁ āyasmato channassa attamanā api nāma taṁ āyasmā channo āvi akāsi khīlaṁ chindi.
Odahāvuso channa, sotaṁ;
bhabbosi dhammaṁ viññātun”ti.
Atha kho āyasmato channassa tāvatakeneva uḷāraṁ pītipāmojjaṁ uppajji:
“bhabbo kirasmi dhammaṁ viññātun”ti.
“Sammukhā metaṁ, āvuso channa, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ kaccānagottaṁ bhikkhuṁ ovadantassa—
dvayanissito khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena atthitañceva natthitañca.
Lokasamudayaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke natthitā, sā na hoti.
Lokanirodhaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke atthitā, sā na hoti.
Upayupādānābhinivesavinibandho khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena
taṁ cāyaṁ upayupādānaṁ cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayaṁ na upeti na upādiyati nādhiṭṭhāti ‘attā me’ti.
Dukkhameva uppajjamānaṁ uppajjati, dukkhaṁ nirujjhamānaṁ nirujjhatīti na kaṅkhati na vicikicchati.
Aparappaccayā ñāṇamevassa ettha hoti.
Ettāvatā kho, kaccāna, sammādiṭṭhi hoti.
Sabbamatthīti kho, kaccāna, ayameko anto.
Sabbaṁ natthīti ayaṁ dutiyo anto.
Ete te, kaccāna, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti—
avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
“Evametaṁ, āvuso ānanda, hoti yesaṁ āyasmantānaṁ tādisā sabrahmacārayo anukampakā atthakāmā ovādakā anusāsakā.
Idañca pana me āyasmato ānandassa dhammadesanaṁ sutvā dhammo abhisamito”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1On one occasion a number of bhikkhus were dwelling at Baraṇasi in the Deer Park at Isipatana. Then, in the evening, the Venerable Channa emerged from seclusion and, taking his key, went from dwelling to dwelling saying to the elder bhikkhus: “Let the elder venerable ones exhort me, let them instruct me, let them give me a Dhamma talk in such a way that I might see the Dhamma.”
SC 2When this was said, the elder bhikkhus said to the Venerable Channa: “Form, friend Channa, is impermanent, feeling is impermanent, perception is impermanent, volitional formations are impermanent, consciousness is impermanent. Form is nonself, sn.iii.133 feeling is nonself, perception is nonself, volitional formations are nonself, consciousness is nonself. All formations are impermanent; all phenomena are nonself.”
SC 3Then it occurred to the Venerable Channa: “I too think in this way: ‘Form is impermanent … consciousness is impermanent. Form is nonself … consciousness is nonself. All formations are impermanent; all phenomena are nonself.’ But my mind does not launch out upon the stilling of all formations, the relinquishing of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna; nor does it acquire confidence, settle down, and resolve on it. Instead, agitation and clinging arise and the mind turns back, thinking: ‘But who is my self?’ But such does not happen to one who sees the Dhamma. So who can teach me the Dhamma in such a way that I might see the Dhamma?”
SC 4Then it occurred to the Venerable Channa: “This Venerable Ānanda is dwelling at Kosambi in Ghosita’s Park, and he has been praised by the Teacher and is esteemed by his wise brothers in the holy life. The Venerable Ānanda is capable of teaching me the Dhamma in such a way that I might see the Dhamma. Since I have so much trust in the Venerable Ānanda, let me approach him.”
SC 5Then the Venerable Channa set his lodging in order, took his bowl and robe, and went to Ghosita’s Park in Kosambi, where he approached the Venerable Ānanda and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and told the Venerable Ānanda everything that had happened, adding: sn.iii.134 “Let the Venerable Ānanda exhort me, let him instruct me, let him give me a Dhamma talk in such a way that I might see the Dhamma.”
SC 6“Even by this much am I pleased with the Venerable Channa. Perhaps the Venerable Channa has opened himself up and broken through his barrenness. Lend your ear, friend Channa, you are capable of understanding the Dhamma.”
SC 7Then at once a lofty rapture and gladness arose in the Venerable Channa as he thought: “It seems that I am capable of understanding the Dhamma.”
SC 8The Venerable Ānanda then said: “In the presence of the Blessed One I have heard this, friend Channa, in his presence I have received the exhortation he spoke to the bhikkhu Kaccanagotta:
SC 9“This world, Kaccana, for the most part relies upon a duality … sn.iii.135 (the entire sutta 12:15 is cited here) … Such is the cessation of this whole mass of suffering.”
SC 10“So it is, friend Ānanda, for those venerable ones who have such compassionate and benevolent brothers in the holy life to admonish and instruct them. And now that I have heard this Dhamma teaching of the Venerable Ānanda, I have made the breakthrough to the Dhamma.”
Vi-n 1 Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão trú ở Bārānasī, Isipatana, vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Channa, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác và nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:
—Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy được pháp.
Vi-n 3 Ðược nói vậy, các vị Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Channa:
—Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ là vô thường; tưởng là vô thường; các hành là vô thường; thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ như sau: “Ta cũng suy nghĩ như vầy: ‘Sắc là vô thường; thọ … tưởng … các hành … thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả pháp là vô ngã.’
Vi-n 5 Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến (paritassanà), chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: ‘Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?”
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Channa suy nghĩ: “Ðây là Tôn giả Ānanda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ānanda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp. Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ānanda. Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda!”
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Channa, sau khi dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát đi đến Kosambi, vườn Ghosita, chỗ Tôn giả Ānanda ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Channa nói với Tôn giả Ānanda:
—Một thời, này Hiền giả Ānanda, tôi ở Bārānasī, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi vào buổi chiều, này Hiền giả, tôi từ chỗ tịnh cư đứng dậy, cầm chiếc chìa khóa, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão: “Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giáo giới cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy giảng dạy cho tôi! Chư Tôn giả Trưởng lão, hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp”.
Vi-n 9 Ðược nghe nói vậy, này Hiền giả, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với tôi: “Sắc, này Hiền giả Channa, là vô thường; thọ … tưởng … các hành … thức là vô thường. Sắc là vô ngã; thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã”.
Vi-n 10 Về vấn đề ấy, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ta cũng suy nghĩ như vầy: ‘Sắc là vô thường … thức là vô thường. Sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã. Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã’.
Vi-n 11 Nhưng tâm của ta không hướng tiến đến sự chỉ tịnh tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn, không có thoải mái, không có an trú, không có hướng về. Do sự tham luyến, chấp thủ khởi lên. Tâm ý trở lui lại tư tưởng: ‘Có phải tự ngã của ta sinh hoạt?’ Như vậy thời ta không thể thấy pháp. Ai có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp?”
Vi-n 12 Rồi về vấn đề này, này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Ðây là Tôn giả Ānanda, hiện trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita, được bậc Ðạo Sư tán thán và các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ānanda có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể thấy pháp! Và cho đến như vậy, ta có lòng tin tưởng đối với Tôn giả Ānanda! Vậy ta hãy đi đến Tôn giả Ānanda”.
Vi-n 13 Tôn giả Ānanda hãy giáo giới cho tôi! Tôn giả Ānanda hãy giảng dạy cho tôi! Tôn giả Ānanda hãy thuyết pháp cho tôi để tôi có thể thấy pháp.
Vi-n 14 —Cho đến như vậy, thật sự tôi rất hoan hỷ đối với Tôn giả Channa. Tôn giả Channa đã làm cho sự việc rõ ràng. Tôn giả Channa đã phá vỡ chướng ngại. Hãy lóng tai, này Hiền giả Channa! Hiền giả có thể hiểu được Chánh pháp.
Vi-n 15 Ngay lúc ấy, Tôn giả Channa khởi lên hoan hỷ, hân hoan thù thắng khi nghe đến: “Ta có thể hiểu được pháp”.
Vi-n 16 —Này Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo giới này cho Kaccànaghotta: “Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccāna, hiện hữu và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi của thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu! Nhưng này Kaccāna, ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt của thế giới, thì cũng không chấp nhận là thế giới có hiện hữu. Thế giới này phần lớn, này Kaccāna, là chấp thủ các phương tiện và bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp thủ, không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú vào thiên kiến tùy miên, vị ấy không nói: ‘Ðây là tự ngã của tôi”. Với ai nghĩ rằng: ‘Cái gì khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’, vị ấy không có phân vân, nghi hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác. Cho đến như vậy, này Kaccāna, là chánh trí”.
Vi-n 17 “‘Tất cả đều có ‘, này Kaccāna, là một cực đoan. ‘Tất cả đều không có' là một cực đoan. Không chấp nhận hai cực đoan ấy, này Kaccāna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do duyên vô minh, nên hành khởi. Do duyên hành, nên thức khởi … Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn nên các hành diệt … Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này”.
Vi-n 18 —Như vậy, này Hiền giả Ānanda, là điều sẽ đến với các bậc Tôn giả nào có được những đồng Phạm hạnh như vậy, những vị có lòng từ mẫn, những vị muốn sự lợi ích, những vị giáo giới, những vị giảng dạy, nghe được lời thuyết pháp này từ Tôn giả Ānanda, tôi được an trú vững chắc trong Chánh pháp.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā therā bhikkhū bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā channo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito avāpuraṇaṁ ādāya vihārena vihāraṁ upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavoca:
“ovadantu maṁ āyasmanto therā, anusāsantu maṁ āyasmanto therā, karontu me āyasmanto therā dhammiṁ kathaṁ, yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan”ti.
Evaṁ vutte, therā bhikkhū āyasmantaṁ channaṁ etadavocuṁ:
“rūpaṁ kho, āvuso channa, aniccaṁ;
vedanā aniccā;
saññā aniccā;
saṅkhārā aniccā;
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Rūpaṁ anattā;
vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā;
sabbe dhammā anattā”ti.
Atha kho āyasmato channassa etadahosi:
“mayhampi kho etaṁ evaṁ hoti:
‘rūpaṁ aniccaṁ, vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ;
rūpaṁ anattā, vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti.
Atha ca pana me sabbasaṅkhārasamathe sabbūpadhipaṭinissagge taṇhākkhaye virāge nirodhe nibbāne cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Paritassanā upādānaṁ uppajjati;
paccudāvattati mānasaṁ:
‘atha ko carahi me attā’ti?
Na kho panevaṁ dhammaṁ passato hoti.
Ko nu kho me tathā dhammaṁ deseyya yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan”ti.
Atha kho āyasmato channassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ, pahoti ca me āyasmā ānando tathā dhammaṁ desetuṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyaṁ;
atthi ca me āyasmante ānande tāvatikā vissaṭṭhi.
Yannūnāhaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho āyasmā channo senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena kosambī ghositārāmo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā channo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Ekamidāhaṁ, āvuso ānanda, samayaṁ bārāṇasiyaṁ viharāmi isipatane migadāye.
Atha khvāhaṁ, āvuso, sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito avāpuraṇaṁ ādāya vihārena vihāraṁ upasaṅkamiṁ;
upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavocaṁ:
‘ovadantu maṁ āyasmanto therā, anusāsantu maṁ āyasmanto therā, karontu me āyasmanto therā dhammiṁ kathaṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan’ti.
Evaṁ vutte, maṁ, āvuso, therā bhikkhū etadavocuṁ:
‘rūpaṁ kho, āvuso channa, aniccaṁ;
vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ;
rūpaṁ anattā …pe…
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘mayhampi kho etaṁ evaṁ hoti—
rūpaṁ aniccaṁ …pe…
viññāṇaṁ aniccaṁ, rūpaṁ anattā, vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ anattā.
Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti.
Atha ca pana me sabbasaṅkhārasamathe sabbūpadhipaṭinissagge taṇhākkhaye virāge nirodhe nibbāne cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Paritassanā upādānaṁ uppajjati;
paccudāvattati mānasaṁ:
‘atha ko carahi me attā’ti?
Na kho panevaṁ dhammaṁ passato hoti.
Ko nu kho me tathā dhammaṁ deseyya yathāhaṁ dhammaṁ passeyyanti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘ayaṁ kho āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ, pahoti ca me āyasmā ānando tathā dhammaṁ desetuṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyaṁ.
Atthi ca me āyasmante ānande tāvatikā vissaṭṭhi.
Yannūnāhaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyan’ti.
Ovadatu maṁ, āyasmā ānando;
anusāsatu maṁ, āyasmā ānando;
karotu me, āyasmā ānando dhammiṁ kathaṁ yathāhaṁ dhammaṁ passeyyan”ti.
“Ettakenapi mayaṁ āyasmato channassa attamanā api nāma taṁ āyasmā channo āvi akāsi khīlaṁ chindi.
Odahāvuso channa, sotaṁ;
bhabbosi dhammaṁ viññātun”ti.
Atha kho āyasmato channassa tāvatakeneva uḷāraṁ pītipāmojjaṁ uppajji:
“bhabbo kirasmi dhammaṁ viññātun”ti.
“Sammukhā metaṁ, āvuso channa, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ kaccānagottaṁ bhikkhuṁ ovadantassa—
dvayanissito khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena atthitañceva natthitañca.
Lokasamudayaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke natthitā, sā na hoti.
Lokanirodhaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke atthitā, sā na hoti.
Upayupādānābhinivesavinibandho khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena
taṁ cāyaṁ upayupādānaṁ cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayaṁ na upeti na upādiyati nādhiṭṭhāti ‘attā me’ti.
Dukkhameva uppajjamānaṁ uppajjati, dukkhaṁ nirujjhamānaṁ nirujjhatīti na kaṅkhati na vicikicchati.
Aparappaccayā ñāṇamevassa ettha hoti.
Ettāvatā kho, kaccāna, sammādiṭṭhi hoti.
Sabbamatthīti kho, kaccāna, ayameko anto.
Sabbaṁ natthīti ayaṁ dutiyo anto.
Ete te, kaccāna, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti—
avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
“Evametaṁ, āvuso ānanda, hoti yesaṁ āyasmantānaṁ tādisā sabrahmacārayo anukampakā atthakāmā ovādakā anusāsakā.
Idañca pana me āyasmato ānandassa dhammadesanaṁ sutvā dhammo abhisamito”ti.
Aṭṭhamaṁ.