Vi-n 1-2. Ở Sāvatthi …
—Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền tịnh trong ba tháng …
Vi-n 3 Sau ba tháng, Thế Tôn từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:
—Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.
Vi-n 4 Như vậy, Ta rõ biết (pajànàmi) những gì được cảm thọ do duyên tà kiến, những gì được cảm thọ do duyên tà kiến được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên tà định được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên chánh định, những gì được cảm thọ do duyên chánh định được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên ước muốn (chanda), những gì được cảm thọ do duyên ước muốn được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tầm, những gì được cảm thọ do duyên tầm được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tưởng, những gì được cảm thọ do duyên tưởng được tịnh chỉ.
Vi-n 5 Khi ước muốn không tịnh chỉ, tầm không tịnh chỉ, tưởng không tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Vi-n 6 Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để chứng đạt. Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Icchāmahaṁ, bhikkhave, temāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Namhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho bhagavā tassa temāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“yena svāhaṁ, bhikkhave, vihārena paṭhamābhisambuddho viharāmi, tassa padesena vihāsiṁ.
So evaṁ pajānāmi:
‘micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ;
micchādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
sammādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ …pe…
micchāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
micchāsamādhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ, sammāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammāsamādhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
chandapaccayāpi vedayitaṁ;
chandavūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
vitakkapaccayāpi vedayitaṁ;
vitakkavūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
saññāpaccayāpi vedayitaṁ;
saññāvūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca avūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca vūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
appattassa pattiyā atthi āyāmaṁ, tasmimpi ṭhāne anuppatte tappaccayāpi vedayitan’”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, I wish to go into seclusion for three months. I should not be approached by anyone except the one who brings me almsfood.”
SC 2“Yes, venerable sir,” those bhikkhus replied, and no one approached the Blessed One except the one who brought him almsfood.
SC 3Then, when those three months had passed, the Blessed One emerged from seclusion and addressed the bhikkhus thus:
SC 4“Bhikkhus, I have been dwelling in part of the abode in which I dwelt just after I became fully enlightened. I have understood thus: ‘There is feeling with wrong view as condition, also feeling with the subsiding of wrong view as condition. There is feeling with right view as condition, also feeling with the subsiding of right view as condition…. There is feeling with wrong concentration as condition, also feeling with the subsiding of wrong concentration as condition. There is feeling with right concentration as condition, also feeling with the subsiding of right concentration as condition. There is feeling with desire as condition, also feeling with the subsiding of desire as condition. There is feeling with thought as condition, also feeling with the subsiding of thought as condition. There is feeling with perception as condition, also feeling with the subsiding of perception as condition.
SC 5“‘When desire has not subsided, and thought has not subsided, and perception has not subsided, there is feeling with that as condition. When desire has subsided, and thoughts have not subsided, and perceptions have not subsided, there is also feeling with that as condition. When desire has subsided, and thoughts have subsided, and perceptions have not subsided, there is also feeling with that as condition. sn.v.14 When desire has subsided, and thought has subsided, and perception has subsided, there is also feeling with that as condition. There is effort for the attainment of the as-yet-unattained. When that stage has been reached, there is also feeling with that as condition.’”
Vi-n 1-2. Ở Sāvatthi …
—Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền tịnh trong ba tháng …
Vi-n 3 Sau ba tháng, Thế Tôn từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:
—Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.
Vi-n 4 Như vậy, Ta rõ biết (pajànàmi) những gì được cảm thọ do duyên tà kiến, những gì được cảm thọ do duyên tà kiến được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên tà định được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên chánh định, những gì được cảm thọ do duyên chánh định được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên ước muốn (chanda), những gì được cảm thọ do duyên ước muốn được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tầm, những gì được cảm thọ do duyên tầm được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tưởng, những gì được cảm thọ do duyên tưởng được tịnh chỉ.
Vi-n 5 Khi ước muốn không tịnh chỉ, tầm không tịnh chỉ, tưởng không tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Vi-n 6 Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để chứng đạt. Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Icchāmahaṁ, bhikkhave, temāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Namhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho bhagavā tassa temāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“yena svāhaṁ, bhikkhave, vihārena paṭhamābhisambuddho viharāmi, tassa padesena vihāsiṁ.
So evaṁ pajānāmi:
‘micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ;
micchādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
sammādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ …pe…
micchāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
micchāsamādhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ, sammāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammāsamādhivūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
chandapaccayāpi vedayitaṁ;
chandavūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
vitakkapaccayāpi vedayitaṁ;
vitakkavūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
saññāpaccayāpi vedayitaṁ;
saññāvūpasamapaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca avūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca vūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
appattassa pattiyā atthi āyāmaṁ, tasmimpi ṭhāne anuppatte tappaccayāpi vedayitan’”ti.
Dutiyaṁ.