Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāketa, rừng Anjana, tại vườn Nai. Rồi Thiên tử Kokudha, sau khi đêm đã gần mãn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn khu rừng Anjana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 2 Ðứng một bên, Thiên tử Kakudha bạch Thế Tôn:
—Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
—Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
—Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
—Ta mòn mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
—Vậy thời thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
—Thật như vậy, này Hiền giả.
Vi-n 3
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Tuy vậy, Ngài cũng không
Có được sự hoan hỷ?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
Vi-n 4
Thật sự, này Dạ-xoa,
Ta không có sầu muộn,
Tuy vậy ở nơi Ta,
Hoan hỷ không khởi lên,
Dầu nay Ta có ngồi,
Riêng một mình cô độc,
Ta không có hoan hỷ,
Cũng không bị dao động.
Vi-n 5
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Làm sao ở nơi Ngài,
Hoan hỷ không khởi lên?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
Vi-n 6
Hoan hỷ chỉ có đến,
Với người tâm sầu muộn,
Sầu muộn chỉ có đến,
Với người tâm hoan hỷ.
Do vậy, vị Tỷ-kheo,
Không hoan hỷ, sầu muộn.
Vậy nên, này Hiền giả,
Ông phải biết như vậy.
Vi-n 7
Ðã lâu, con mới thấy,
Bà-la-môn tịch tịnh,
Vị Tỷ-kheo không sầu,
Cũng không có hoan hỷ,
Ðã an toàn vượt khỏi,
Chỗ người đời đắm say.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye.
Atha kho kakudho devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ añjanavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho kakudho devaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“nandasi, samaṇā”ti?
“Kiṁ laddhā, āvuso”ti?
“Tena hi, samaṇa, socasī”ti?
“Kiṁ jīyittha, āvuso”ti?
“Tena hi, samaṇa, neva nandasi na ca socasī”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Kacci tvaṁ anagho bhikkhu,
kacci nandī na vijjati;
Kacci taṁ ekamāsīnaṁ,
aratī nābhikīratī”ti.
“Anagho ve ahaṁ yakkha,
atho nandī na vijjati;
Atho maṁ ekamāsīnaṁ,
aratī nābhikīratī”ti.
“Kathaṁ tvaṁ anagho bhikkhu,
kathaṁ nandī na vijjati;
Kathaṁ taṁ ekamāsīnaṁ,
aratī nābhikīratī”ti.
“Aghajātassa ve nandī,
nandījātassa ve aghaṁ;
Anandī anagho bhikkhu,
evaṁ jānāhi āvuso”ti.
“Cirassaṁ vata passāmi,
brāhmaṇaṁ parinibbutaṁ;
Anandiṁ anaghaṁ bhikkhuṁ,
tiṇṇaṁ loke visattikan”ti.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Sāketa in the deer park at the Añjana Wood.
Then, late at night, the glorious godling Kakudha, lighting up the entire Añjana Wood, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
“Do you delight, ascetic?”
“What have I gained, sir?”
“Well then, ascetic, do you sorrow?”
“What have I lost, sir?”
“Well then, ascetic, do you neither delight nor sorrow?”
“Yes, sir.”
“I hope you’re not gloomy, mendicant,
I hope that delight isn’t found in you.
I hope that discontent doesn’t
overwhelm you as you sit alone.”
“I’m genuinely not gloomy, spirit,
and no delight is found in me.
And also discontent doesn’t
overwhelm me as I sit alone.”
“How are you not gloomy, mendicant?
How is delight not found in you?
How does discontent not
overwhelm you as you sit alone?”
“Delight is born from gloom,
gloom is born from delight;
sir, you should know me as
a mendicant free of delight and gloom.”
“After a long time I see
a brahmin fully quenched.
A mendicant free of delight and gloom,
he has crossed over clinging to the world.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāketa, rừng Anjana, tại vườn Nai. Rồi Thiên tử Kokudha, sau khi đêm đã gần mãn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn khu rừng Anjana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 2 Ðứng một bên, Thiên tử Kakudha bạch Thế Tôn:
—Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
—Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
—Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
—Ta mòn mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
—Vậy thời thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
—Thật như vậy, này Hiền giả.
Vi-n 3
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Tuy vậy, Ngài cũng không
Có được sự hoan hỷ?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
Vi-n 4
Thật sự, này Dạ-xoa,
Ta không có sầu muộn,
Tuy vậy ở nơi Ta,
Hoan hỷ không khởi lên,
Dầu nay Ta có ngồi,
Riêng một mình cô độc,
Ta không có hoan hỷ,
Cũng không bị dao động.
Vi-n 5
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Ngài không có sầu muộn,
Làm sao ở nơi Ngài,
Hoan hỷ không khởi lên?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
Vi-n 6
Hoan hỷ chỉ có đến,
Với người tâm sầu muộn,
Sầu muộn chỉ có đến,
Với người tâm hoan hỷ.
Do vậy, vị Tỷ-kheo,
Không hoan hỷ, sầu muộn.
Vậy nên, này Hiền giả,
Ông phải biết như vậy.
Vi-n 7
Ðã lâu, con mới thấy,
Bà-la-môn tịch tịnh,
Vị Tỷ-kheo không sầu,
Cũng không có hoan hỷ,
Ðã an toàn vượt khỏi,
Chỗ người đời đắm say.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye.
Atha kho kakudho devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ añjanavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho kakudho devaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“nandasi, samaṇā”ti?
“Kiṁ laddhā, āvuso”ti?
“Tena hi, samaṇa, socasī”ti?
“Kiṁ jīyittha, āvuso”ti?
“Tena hi, samaṇa, neva nandasi na ca socasī”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Kacci tvaṁ anagho bhikkhu,
kacci nandī na vijjati;
Kacci taṁ ekamāsīnaṁ,
aratī nābhikīratī”ti.
“Anagho ve ahaṁ yakkha,
atho nandī na vijjati;
Atho maṁ ekamāsīnaṁ,
aratī nābhikīratī”ti.
“Kathaṁ tvaṁ anagho bhikkhu,
kathaṁ nandī na vijjati;
Kathaṁ taṁ ekamāsīnaṁ,
aratī nābhikīratī”ti.
“Aghajātassa ve nandī,
nandījātassa ve aghaṁ;
Anandī anagho bhikkhu,
evaṁ jānāhi āvuso”ti.
“Cirassaṁ vata passāmi,
brāhmaṇaṁ parinibbutaṁ;
Anandiṁ anaghaṁ bhikkhuṁ,
tiṇṇaṁ loke visattikan”ti.