Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn Cây Bàng.
Vi-n 2 Rồi họ Thích Nandiyà đi đến Thế Tôn; sau khi đến … ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiyà bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Với vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, có thể được gọi là trú phóng dật không?
—Này Nandiyà, với ai toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; người ấy, Ta tuyên bố là người đứng ngoài, trong hàng ngũ kẻ phàm phu.
Vi-n 4 Tuy vậy, này Nandiyà, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào một Thánh đệ tử trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Họ Thích Nandiyà vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 5 —Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú phóng dật?
Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động đối với Phật, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống phóng dật như vậy, nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Vị này thỏa mãn với những giới được các bậc Thánh ái kính, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy trú phóng dật như vậy nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không có khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật.
Vi-n 6 Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật?
Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn”. Vị này không thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động ấy, cố gắng hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật, nên hân hoan khởi. Do vị ấy hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân khinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử đối với Pháp … đối với chúng Tăng … vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Vị ấy không thỏa mãn với các giới được các bậc Thánh ái kính, cố gắng tinh tấn hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật như vậy, hân hoan sanh. Vị ấy có hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân kinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Như vậy, này Nandiyà, là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho nandiyo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nandiyo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“yasseva nu kho, bhante, ariyasāvakassa cattāri sotāpattiyaṅgāni sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ natthi sveva nu kho, bhante, ariyasāvako pamādavihārī”ti.
“‘Yassa kho, nandiya, cattāri sotāpattiyaṅgāni sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ natthi tamahaṁ bāhiro puthujjanapakkhe ṭhito’ti vadāmi.
Api ca, nandiya, yathā ariyasāvako pamādavihārī ceva hoti, appamādavihārī ca
taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho nandiyo sakko bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Kathañca, nandiya, ariyasāvako pamādavihārī hoti?
Idha, nandiya, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
So tena buddhe aveccappasādena santuṭṭho na uttari vāyamati divā pavivekāya, rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ pamattassa viharato pāmojjaṁ na hoti.
Pāmojje asati, pīti na hoti.
Pītiyā asati, passaddhi na hoti.
Passaddhiyā asati, dukkhaṁ viharati.
Dukkhino cittaṁ na samādhiyati.
Asamāhite citte dhammā na pātubhavanti.
Dhammānaṁ apātubhāvā pamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, nandiya, ariyasāvako dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
So tehi ariyakantehi sīlehi santuṭṭho na uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ pamattassa viharato pāmojjaṁ na hoti.
Pāmojje asati, pīti na hoti.
Pītiyā asati, passaddhi na hoti.
Passaddhiyā asati, dukkhaṁ viharati.
Dukkhino cittaṁ na samādhiyati.
Asamāhite citte dhammā na pātubhavanti.
Dhammānaṁ apātubhāvā pamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Evaṁ kho, nandiya, ariyasāvako pamādavihārī hoti.
Kathañca, nandiya, ariyasāvako appamādavihārī hoti?
Idha, nandiya, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
So tena buddhe aveccappasādena asantuṭṭho uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ appamattassa viharato pāmojjaṁ jāyati.
Pamuditassa pīti jāyati.
Pītimanassa kāyo passambhati.
Passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
Sukhino cittaṁ samādhiyati.
Samāhite citte dhammā pātubhavanti.
Dhammānaṁ pātubhāvā appamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, nandiya, ariyasāvako dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
So tehi ariyakantehi sīlehi asantuṭṭho uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ appamattassa viharato pāmojjaṁ jāyati.
Pamuditassa pīti jāyati.
Pītimanassa kāyo passambhati.
Passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
Sukhino cittaṁ samādhiyati.
Samāhite citte dhammā pātubhavanti.
Dhammānaṁ pātubhāvā appamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Evaṁ kho, nandiya, ariyasāvako appamādavihārī hotī”ti.
Dasamaṁ.
Puññābhisandavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Abhisandā tayo vuttā,
duve devapadāni ca;
Sabhāgataṁ mahānāmo,
vassaṁ kāḷī ca nandiyāti.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Then Nandiya the Sakyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, if a noble disciple were to totally and utterly lack the four factors of stream-entry, would they live negligently?”
“Nandiya, someone who totally and utterly lacks these four factors of stream-entry is an outsider who belongs with the ordinary persons, I say.
Neverthless, Nandiya, as to how a noble disciple lives negligently and how they live diligently,
listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Nandiya replied.
The Buddha said this:
“And how does a noble disciple live negligently?
Firstly, a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
They’re content with that confidence, and don’t make a further effort for solitude by day or retreat by night.
When they live negligently, there’s no joy.
When there’s no joy, there’s no rapture.
When there’s no rapture, there’s no tranquility.
When there’s no tranquility, there’s suffering.
When one is suffering, the mind does not become immersed in samādhi.
When the mind is not immersed in samādhi, principles do not become clear.
Because principles have not become clear, they’re reckoned to live negligently.
Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
They’re content with that ethical conduct loved by the noble ones, and don’t make a further effort for solitude by day or retreat by night.
When they live negligently, there’s no joy.
When there’s no joy, there’s no rapture.
When there’s no rapture, there’s no tranquility.
When there’s no tranquility, there’s suffering.
When one is suffering, the mind does not become immersed in samādhi.
When the mind is not immersed in samādhi, principles do not become clear.
Because principles have not become clear, they’re reckoned to live negligently.
That’s how a noble disciple lives negligently.
And how does a noble disciple live diligently?
Firstly, a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
But they’re not content with that confidence, and make a further effort for solitude by day and retreat by night.
When they live diligently, joy springs up.
Being joyful, rapture springs up.
When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil.
When the body is tranquil, they feel bliss.
And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi.
When the mind is immersed in samādhi, principles become clear.
Because principles have become clear, they’re reckoned to live diligently.
Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
But they’re not content with that ethical conduct loved by the noble ones, and make a further effort for solitude by day and retreat by night.
When they live diligently, joy springs up.
Being joyful, rapture springs up.
When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil.
When the body is tranquil, they feel bliss.
And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi.
When the mind is immersed in samādhi, principles become clear.
Because principles have become clear, they’re reckoned to live diligently.
That’s how a noble disciple lives diligently.”
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn Cây Bàng.
Vi-n 2 Rồi họ Thích Nandiyà đi đến Thế Tôn; sau khi đến … ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiyà bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Với vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, có thể được gọi là trú phóng dật không?
—Này Nandiyà, với ai toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; người ấy, Ta tuyên bố là người đứng ngoài, trong hàng ngũ kẻ phàm phu.
Vi-n 4 Tuy vậy, này Nandiyà, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào một Thánh đệ tử trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Họ Thích Nandiyà vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 5 —Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú phóng dật?
Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động đối với Phật, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống phóng dật như vậy, nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Vị này thỏa mãn với những giới được các bậc Thánh ái kính, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy trú phóng dật như vậy nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không có khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật.
Vi-n 6 Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật?
Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn”. Vị này không thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động ấy, cố gắng hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật, nên hân hoan khởi. Do vị ấy hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân khinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử đối với Pháp … đối với chúng Tăng … vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Vị ấy không thỏa mãn với các giới được các bậc Thánh ái kính, cố gắng tinh tấn hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật như vậy, hân hoan sanh. Vị ấy có hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân kinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Như vậy, này Nandiyà, là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho nandiyo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nandiyo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“yasseva nu kho, bhante, ariyasāvakassa cattāri sotāpattiyaṅgāni sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ natthi sveva nu kho, bhante, ariyasāvako pamādavihārī”ti.
“‘Yassa kho, nandiya, cattāri sotāpattiyaṅgāni sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ natthi tamahaṁ bāhiro puthujjanapakkhe ṭhito’ti vadāmi.
Api ca, nandiya, yathā ariyasāvako pamādavihārī ceva hoti, appamādavihārī ca
taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho nandiyo sakko bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Kathañca, nandiya, ariyasāvako pamādavihārī hoti?
Idha, nandiya, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
So tena buddhe aveccappasādena santuṭṭho na uttari vāyamati divā pavivekāya, rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ pamattassa viharato pāmojjaṁ na hoti.
Pāmojje asati, pīti na hoti.
Pītiyā asati, passaddhi na hoti.
Passaddhiyā asati, dukkhaṁ viharati.
Dukkhino cittaṁ na samādhiyati.
Asamāhite citte dhammā na pātubhavanti.
Dhammānaṁ apātubhāvā pamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, nandiya, ariyasāvako dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
So tehi ariyakantehi sīlehi santuṭṭho na uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ pamattassa viharato pāmojjaṁ na hoti.
Pāmojje asati, pīti na hoti.
Pītiyā asati, passaddhi na hoti.
Passaddhiyā asati, dukkhaṁ viharati.
Dukkhino cittaṁ na samādhiyati.
Asamāhite citte dhammā na pātubhavanti.
Dhammānaṁ apātubhāvā pamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Evaṁ kho, nandiya, ariyasāvako pamādavihārī hoti.
Kathañca, nandiya, ariyasāvako appamādavihārī hoti?
Idha, nandiya, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
So tena buddhe aveccappasādena asantuṭṭho uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ appamattassa viharato pāmojjaṁ jāyati.
Pamuditassa pīti jāyati.
Pītimanassa kāyo passambhati.
Passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
Sukhino cittaṁ samādhiyati.
Samāhite citte dhammā pātubhavanti.
Dhammānaṁ pātubhāvā appamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, nandiya, ariyasāvako dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
So tehi ariyakantehi sīlehi asantuṭṭho uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṁ paṭisallānāya.
Tassa evaṁ appamattassa viharato pāmojjaṁ jāyati.
Pamuditassa pīti jāyati.
Pītimanassa kāyo passambhati.
Passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
Sukhino cittaṁ samādhiyati.
Samāhite citte dhammā pātubhavanti.
Dhammānaṁ pātubhāvā appamādavihārītveva saṅkhyaṁ gacchati.
Evaṁ kho, nandiya, ariyasāvako appamādavihārī hotī”ti.
Dasamaṁ.
Puññābhisandavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Abhisandā tayo vuttā,
duve devapadāni ca;
Sabhāgataṁ mahānāmo,
vassaṁ kāḷī ca nandiyāti.