Vi-n 1 Ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có nhiều vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau ở trong những chòi lá, trên bờ biển.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, một trận chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất ác liệt.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy suy nghĩ như sau: “Chư Thiên sống như pháp, các A-tu-la sống phi pháp. Chúng ta có thể nguy hiểm từ phía A-tu-la. Vậy chúng ta hãy đi đến A-tu-la vương Sambara và xin được bảo đảm vô úy”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất trong các chòi lá trên bờ biển và hiện ra trước mặt A—tu-la vương Sambara.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với A-tu-la vương Sambara:
Vi-n 7
Các ẩn sĩ chúng tôi,
Ðến với Sambara,
Ðể xin Ngài bảo đảm,
Thí cho sự vô úy.
Hãy làm như Ngài muốn,
Hãy thí cho chúng tôi,
Những người đang sợ hãi,
Ðược khỏi phải sợ hãi.
Vi-n 8 (Sambara):
Ẩn sĩ như các Ông,
Không thể có vô úy,
Ðã phục vụ Sakka,
Vị trí không tốt lành,
Các Ông xin vô úy,
Ta cho sự sợ hãi.
Vi-n 9 (Các ẩn sĩ):
Chúng tôi xin vô úy,
Ông lại cho sợ hãi,
Ta nhận vậy từ Ông,
Trọn đời, Ông sợ hãi!
Tùy hột giống đã gieo,
Ông gặt quả như vậy.
Làm thiện được quả thiện,
Làm ác bị quả ác,
Giống đã gieo và trồng,
Ông sẽ hưởng kết quả.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, sau khi thốt lời chú nguyện chống A-tu-la vương Sambara, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, liền biến mất trước mặt A-tu-la vương Sambara và hiện ra trong các chòi lá trên bờ biển.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, A-tu-la vương Sambara, bị các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy chú nguyện như vậy, trong đêm ấy thức dậy hoảng hốt ba lần.
Sāvatthiyaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sambahulā isayo sīlavanto kalyāṇadhammā samuddatīre paṇṇakuṭīsu sammanti.
Tena kho pana samayena devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, tesaṁ isīnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ etadahosi:
‘dhammikā kho devā, adhammikā asurā.
Siyāpi no asurato bhayaṁ.
Yannūna mayaṁ sambaraṁ asurindaṁ upasaṅkamitvā abhayadakkhiṇaṁ yāceyyāmā’ti.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—samuddatīre paṇṇakuṭīsu antarahitā sambarassa asurindassa sammukhe pāturahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā sambaraṁ asurindaṁ gāthāya ajjhabhāsiṁsu:
‘Isayo sambaraṁ pattā,
yācanti abhayadakkhiṇaṁ;
Kāmaṅkaro hi te dātuṁ,
bhayassa abhayassa vā’ti.
‘Isīnaṁ abhayaṁ natthi,
duṭṭhānaṁ sakkasevinaṁ;
Abhayaṁ yācamānānaṁ,
bhayameva dadāmi vo’ti.
‘Abhayaṁ yācamānānaṁ,
bhayameva dadāsi no;
Paṭiggaṇhāma te etaṁ,
akkhayaṁ hotu te bhayaṁ.
Yādisaṁ vapate bījaṁ,
tādisaṁ harate phalaṁ;
Kalyāṇakārī kalyāṇaṁ,
pāpakārī ca pāpakaṁ;
Pavuttaṁ tāta te bījaṁ,
phalaṁ paccanubhossasī’ti.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā sambaraṁ asurindaṁ abhisapitvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—sambarassa asurindassa sammukhe antarahitā samuddatīre paṇṇakuṭīsu pāturahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, sambaro asurindo tehi isīhi sīlavantehi kalyāṇadhammehi abhisapito rattiyā sudaṁ tikkhattuṁ ubbijjī”ti.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Suvīraṁ susīmañceva,
dhajaggaṁ vepacittino;
Subhāsitaṁ jayañceva,
kulāvakaṁ nadubbhiyaṁ;
Verocana asurindo,
isayo araññakañceva;
Isayo ca samuddakāti.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, once in the past a number of seers who were virtuous and of good character had settled down in leaf huts along the shore of the ocean. Now on that occasion the devas and the asuras were arrayed for a battle. Then it occurred to those seers who were virtuous and of good character: ‘The devas are righteous, the asuras unrighteous. There may be danger to us from the asuras. Let us approach Sambara, lord of the asuras, and ask him for a guarantee of safety.’
SC 2“Then, bhikkhus, just as quickly as a strong man might extend his drawn-in arm or draw in his extended arm, those seers who were virtuous and of good character disappeared from their leaf huts along the shore of the ocean and reappeared in the presence of Sambara, lord of the asuras. Then those seers addressed Sambara in verse:
SC 3 “‘The seers who have come to Sambara
Ask him for a guarantee of safety.
For you can give them what you wish,
Whether it be danger or safety.’
Sambara:
SC 4 “‘I’ll grant no safety to the seers,
For they are hated devotees of Sakka;
Though you appeal to me for safety,
I’ll give you only danger.’
The seers:
SC 5 “‘Though we have asked for safety,
You give us only danger.
We receive this at your hands:
May ceaseless danger come to you!
SC 6 “‘Whatever sort of seed is sown,
That is the sort of fruit one reaps:
The doer of good reaps good;
The doer of evil reaps evil.
By you, dear, has the seed been sown;
Thus you will experience the fruit.’
SC 7“Then, bhikkhus, having put a curse on Sambara, lord of the asuras, just as quickly as a strong man might extend his drawn-in arm or draw in his extended arm, those seers who were virtuous and of good character disappeared from the presence of Sambara and reappeared in their leaf huts on the shore of the ocean. sn.i.228 But after being cursed by those seers who were virtuous and of good character, Sambara, lord of the asuras, was gripped by alarm three times in the course of the night.”
Vi-n 1 Ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có nhiều vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau ở trong những chòi lá, trên bờ biển.
Vi-n 3 Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, một trận chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất ác liệt.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy suy nghĩ như sau: “Chư Thiên sống như pháp, các A-tu-la sống phi pháp. Chúng ta có thể nguy hiểm từ phía A-tu-la. Vậy chúng ta hãy đi đến A-tu-la vương Sambara và xin được bảo đảm vô úy”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất trong các chòi lá trên bờ biển và hiện ra trước mặt A—tu-la vương Sambara.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với A-tu-la vương Sambara:
Vi-n 7
Các ẩn sĩ chúng tôi,
Ðến với Sambara,
Ðể xin Ngài bảo đảm,
Thí cho sự vô úy.
Hãy làm như Ngài muốn,
Hãy thí cho chúng tôi,
Những người đang sợ hãi,
Ðược khỏi phải sợ hãi.
Vi-n 8 (Sambara):
Ẩn sĩ như các Ông,
Không thể có vô úy,
Ðã phục vụ Sakka,
Vị trí không tốt lành,
Các Ông xin vô úy,
Ta cho sự sợ hãi.
Vi-n 9 (Các ẩn sĩ):
Chúng tôi xin vô úy,
Ông lại cho sợ hãi,
Ta nhận vậy từ Ông,
Trọn đời, Ông sợ hãi!
Tùy hột giống đã gieo,
Ông gặt quả như vậy.
Làm thiện được quả thiện,
Làm ác bị quả ác,
Giống đã gieo và trồng,
Ông sẽ hưởng kết quả.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, sau khi thốt lời chú nguyện chống A-tu-la vương Sambara, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, liền biến mất trước mặt A-tu-la vương Sambara và hiện ra trong các chòi lá trên bờ biển.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, A-tu-la vương Sambara, bị các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy chú nguyện như vậy, trong đêm ấy thức dậy hoảng hốt ba lần.
Sāvatthiyaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sambahulā isayo sīlavanto kalyāṇadhammā samuddatīre paṇṇakuṭīsu sammanti.
Tena kho pana samayena devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, tesaṁ isīnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ etadahosi:
‘dhammikā kho devā, adhammikā asurā.
Siyāpi no asurato bhayaṁ.
Yannūna mayaṁ sambaraṁ asurindaṁ upasaṅkamitvā abhayadakkhiṇaṁ yāceyyāmā’ti.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—samuddatīre paṇṇakuṭīsu antarahitā sambarassa asurindassa sammukhe pāturahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā sambaraṁ asurindaṁ gāthāya ajjhabhāsiṁsu:
‘Isayo sambaraṁ pattā,
yācanti abhayadakkhiṇaṁ;
Kāmaṅkaro hi te dātuṁ,
bhayassa abhayassa vā’ti.
‘Isīnaṁ abhayaṁ natthi,
duṭṭhānaṁ sakkasevinaṁ;
Abhayaṁ yācamānānaṁ,
bhayameva dadāmi vo’ti.
‘Abhayaṁ yācamānānaṁ,
bhayameva dadāsi no;
Paṭiggaṇhāma te etaṁ,
akkhayaṁ hotu te bhayaṁ.
Yādisaṁ vapate bījaṁ,
tādisaṁ harate phalaṁ;
Kalyāṇakārī kalyāṇaṁ,
pāpakārī ca pāpakaṁ;
Pavuttaṁ tāta te bījaṁ,
phalaṁ paccanubhossasī’ti.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā sambaraṁ asurindaṁ abhisapitvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—sambarassa asurindassa sammukhe antarahitā samuddatīre paṇṇakuṭīsu pāturahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, sambaro asurindo tehi isīhi sīlavantehi kalyāṇadhammehi abhisapito rattiyā sudaṁ tikkhattuṁ ubbijjī”ti.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Suvīraṁ susīmañceva,
dhajaggaṁ vepacittino;
Subhāsitaṁ jayañceva,
kulāvakaṁ nadubbhiyaṁ;
Verocana asurindo,
isayo araññakañceva;
Isayo ca samuddakāti.