Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ānanda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa với Tôn giả Ānanda:
Vi-n 3 —Do mục đích gì, thưa Tôn giả Ānanda, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?
—Với mục đích đoạn tận dục (chanda), này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama.
Vi-n 4 —Có con đường gì, thưa Tôn giả Ānanda, có đạo lộ gì đưa đến đoạn tận lòng dục?
—Có con đường này, này Bà-la-môn, có đạo lộ này đưa đến đoạn tận lòng dục.
Vi-n 5 —Con đường ấy là gì, thưa Tôn giả Ānanda? Ðạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận lòng dục?
—Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành … tinh tấn định … tâm định … tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Ðây là con đường, này Bà-la-môn, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận lòng dục.
Vi-n 6 —Sự thể là vậy, thưa Tôn giả Ānanda, thời một công việc liên tục (santaka), không có chấm dứt. Lấy dục mà trừ dục, sự kiện như vậy không xẩy ra.
—Này Bà-la-môn, về vấn đề này, tôi sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, xin hãy trả lời.
Vi-n 7 Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải trước có lòng dục (ý muốn) nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
—Có phải trước có tinh tấn nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tinh tấn ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
—Có phải trước có tâm nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tâm ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
—Có phải trước có tư duy nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tư duy ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
Vi-n 8 —Cũng vậy này Bày-la-môn, khi Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn, chánh trí, giải thoát. Lòng dục mà vị ấy có trước để chứng được A-la-hán thì khi chứng được A-la-hán rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ. Sự tinh tấn mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tinh tấn ấy được tịnh chỉ. Tâm mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tâm ấy được tịnh chỉ. Tư duy mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tư duy ấy được tịnh chỉ.
Vi-n 9 Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự thể là vậy, thời một công việc có chấm dứt liên tục hay là một công việc không chấm dứt?
—Thực vậy, thưa Tôn giả Ānanda, sự thể là vậy, một công việc có chấm dứt, không phải là một công việc không chấm dứt.
Vi-n 10 Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! … Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho uṇṇābho brāhmaṇo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uṇṇābho brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kimatthiyaṁ nu kho, bho ānanda, samaṇe gotame brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Chandappahānatthaṁ kho, brāhmaṇa, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
“Atthi pana, bho ānanda, maggo atthi paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti?
“Atthi kho, brāhmaṇa, maggo, atthi paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti.
“Katamo pana, bho ānanda, maggo katamā paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti?
“Idha, brāhmaṇa, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti,
vīriyasamādhi …pe…
cittasamādhi …
vīmaṁsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti—
ayaṁ kho, brāhmaṇa, maggo ayaṁ paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti.
“Evaṁ sante, bho ānanda, santakaṁ hoti no asantakaṁ.
Chandeneva chandaṁ pajahissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati”.
“Tena hi, brāhmaṇa, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā taṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
ahosi te pubbe chando ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yo tajjo chando so paṭippassaddho”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Ahosi te pubbe vīriyaṁ ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yaṁ tajjaṁ vīriyaṁ taṁ paṭippassaddhan”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Ahosi te pubbe cittaṁ ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yaṁ tajjaṁ cittaṁ taṁ paṭippassaddhan”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Ahosi te pubbe vīmaṁsā ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yā tajjā vīmaṁsā sā paṭippassaddhā”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Evameva kho, brāhmaṇa, yo so bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, tassa yo pubbe chando ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yo tajjo chando so paṭippassaddho;
yaṁ pubbe vīriyaṁ ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yaṁ tajjaṁ vīriyaṁ taṁ paṭippassaddhaṁ;
yaṁ pubbe cittaṁ ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yaṁ tajjaṁ cittaṁ taṁ paṭippassaddhaṁ;
yā pubbe vīmaṁsā ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yā tajjā vīmaṁsā sā paṭippassaddhā.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
iti evaṁ sante, santakaṁ vā hoti no asantakaṁ vā”ti?
“Addhā, bho ānanda, evaṁ sante, santakaṁ hoti no asantakaṁ.
Abhikkantaṁ, bho ānanda, abhikkantaṁ, bho ānanda.
Seyyathāpi, bho ānanda, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā ānandena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bho ānanda, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ ānando dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Pañcamaṁ.
So I have heard.
At one time Venerable Ānanda was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.
Then Uṇṇābha the brahmin went up to Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to him,
“Worthy Ānanda, what’s the goal of leading the spiritual life under the ascetic Gotama?”
“The goal of leading the spiritual life under the Buddha, brahmin, is to give up desire.”
“But is there a path and a practice for giving up that desire?”
“There is.”
“What is that path?”
“It’s when a mendicant develops the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm …
energy …
mental development …
inquiry, and active effort.
This is the path and the practice for giving up that desire.”
“This being the case, worthy Ānanda, the path is endless, not finite.
For it’s not possible to give up desire by means of desire.”
“Well then, brahmin, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like.
What do you think, brahmin?
Have you ever had a desire to walk to the park,
but when you arrived at the park, the corresponding desire faded away?”
“Yes, sir.”
“Have you ever had the energy to walk to the park,
but when you arrived at the park, the corresponding energy faded away?”
“Yes, sir.”
“Have you ever had the idea to walk to the park,
but when you arrived at the park, the corresponding idea faded away?”
“Yes, sir.”
“Have you ever inquired regarding a walk to the park,
but when you arrived at the park, the corresponding inquiry faded away?”
“Yes, sir.”
“In the same way, take a mendicant who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment. They formerly had the desire to attain perfection, but when they attained perfection the corresponding desire faded away.
They formerly had the energy to attain perfection, but when they attained perfection the corresponding energy faded away.
They formerly had the idea to attain perfection, but when they attained perfection the corresponding idea faded away.
They formerly inquired regarding attaining perfection, but when they attained perfection the corresponding inquiry faded away.
What do you think, brahmin?
This being the case, is the path endless or finite?”
“Clearly, worthy Ānanda, this being the case, the path is finite, not endless.
Excellent, worthy Ānanda! Excellent!
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Ānanda has made the teaching clear in many ways.
I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
From this day forth, may the worthy Ānanda remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ānanda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa với Tôn giả Ānanda:
Vi-n 3 —Do mục đích gì, thưa Tôn giả Ānanda, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?
—Với mục đích đoạn tận dục (chanda), này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama.
Vi-n 4 —Có con đường gì, thưa Tôn giả Ānanda, có đạo lộ gì đưa đến đoạn tận lòng dục?
—Có con đường này, này Bà-la-môn, có đạo lộ này đưa đến đoạn tận lòng dục.
Vi-n 5 —Con đường ấy là gì, thưa Tôn giả Ānanda? Ðạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận lòng dục?
—Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành … tinh tấn định … tâm định … tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Ðây là con đường, này Bà-la-môn, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận lòng dục.
Vi-n 6 —Sự thể là vậy, thưa Tôn giả Ānanda, thời một công việc liên tục (santaka), không có chấm dứt. Lấy dục mà trừ dục, sự kiện như vậy không xẩy ra.
—Này Bà-la-môn, về vấn đề này, tôi sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, xin hãy trả lời.
Vi-n 7 Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải trước có lòng dục (ý muốn) nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
—Có phải trước có tinh tấn nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tinh tấn ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
—Có phải trước có tâm nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tâm ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
—Có phải trước có tư duy nơi Ông, thúc đẩy Ông: “Ta sẽ đi đến khu vườn”. Sau khi Ông đến khu vườn, tư duy ấy được tịnh chỉ?
—Thưa vâng, Tôn giả.
Vi-n 8 —Cũng vậy này Bày-la-môn, khi Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn, chánh trí, giải thoát. Lòng dục mà vị ấy có trước để chứng được A-la-hán thì khi chứng được A-la-hán rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ. Sự tinh tấn mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tinh tấn ấy được tịnh chỉ. Tâm mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tâm ấy được tịnh chỉ. Tư duy mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tư duy ấy được tịnh chỉ.
Vi-n 9 Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự thể là vậy, thời một công việc có chấm dứt liên tục hay là một công việc không chấm dứt?
—Thực vậy, thưa Tôn giả Ānanda, sự thể là vậy, một công việc có chấm dứt, không phải là một công việc không chấm dứt.
Vi-n 10 Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! … Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho uṇṇābho brāhmaṇo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uṇṇābho brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kimatthiyaṁ nu kho, bho ānanda, samaṇe gotame brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Chandappahānatthaṁ kho, brāhmaṇa, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
“Atthi pana, bho ānanda, maggo atthi paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti?
“Atthi kho, brāhmaṇa, maggo, atthi paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti.
“Katamo pana, bho ānanda, maggo katamā paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti?
“Idha, brāhmaṇa, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti,
vīriyasamādhi …pe…
cittasamādhi …
vīmaṁsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti—
ayaṁ kho, brāhmaṇa, maggo ayaṁ paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti.
“Evaṁ sante, bho ānanda, santakaṁ hoti no asantakaṁ.
Chandeneva chandaṁ pajahissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati”.
“Tena hi, brāhmaṇa, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā taṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
ahosi te pubbe chando ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yo tajjo chando so paṭippassaddho”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Ahosi te pubbe vīriyaṁ ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yaṁ tajjaṁ vīriyaṁ taṁ paṭippassaddhan”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Ahosi te pubbe cittaṁ ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yaṁ tajjaṁ cittaṁ taṁ paṭippassaddhan”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Ahosi te pubbe vīmaṁsā ‘ārāmaṁ gamissāmī’ti?
Tassa te ārāmagatassa yā tajjā vīmaṁsā sā paṭippassaddhā”ti?
“Evaṁ, bho”.
“Evameva kho, brāhmaṇa, yo so bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, tassa yo pubbe chando ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yo tajjo chando so paṭippassaddho;
yaṁ pubbe vīriyaṁ ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yaṁ tajjaṁ vīriyaṁ taṁ paṭippassaddhaṁ;
yaṁ pubbe cittaṁ ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yaṁ tajjaṁ cittaṁ taṁ paṭippassaddhaṁ;
yā pubbe vīmaṁsā ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yā tajjā vīmaṁsā sā paṭippassaddhā.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
iti evaṁ sante, santakaṁ vā hoti no asantakaṁ vā”ti?
“Addhā, bho ānanda, evaṁ sante, santakaṁ hoti no asantakaṁ.
Abhikkantaṁ, bho ānanda, abhikkantaṁ, bho ānanda.
Seyyathāpi, bho ānanda, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā ānandena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bho ānanda, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ ānando dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Pañcamaṁ.