Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana … (như trên) …
Vi-n 2 Thế Tôn thuyết như sau:
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các Asura, rất là khốc liệt.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la gọi các A-tu-la:
“—Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la, rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka (hai tay, hai chân) và thứ năm là cổ và dắt vị ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la.”
Vi-n 5 Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
“—Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói Vepacitti, vua các A-tu-la hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vị ấy lên trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.
Vi-n 6 Nhưng này các Tỷ-kheo trong trận chiến ấy chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên trói A-tu-la vương Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka, trong giảng đường Sudhamma.
Vi-n 8 Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua các A-tu-la, Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, khi Thiên chủ Sakka đi vào và đi ra khỏi giảng đường Sudhamma, nhiếc mắng, mạ lị Thiên chủ Sakka với những lời thô ác, độc ngữ.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ—kheo, người đánh xe Mātali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Này Thiên chủ Sakka,
Có phải là Ông sợ,
Hay vì Ông yếu hèn,
Nên mới phải kham nhẫn,
Khi Ông nghe ác ngữ,
Từ Vepacitti?
Vi-n 10 (Sakka):
Không phải vì sợ hãi,
Không phải vì yếu hèn,
Mà ta phải kham nhẫn,
Với Vepacitti.
Sao kẻ trí như ta,
Lại liên hệ người ngu?
Vi-n 11 (Mātali):
Kẻ ngu càng nổi khùng,
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
Vi-n 12 (Sakka):
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ đối trị người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm tâm an tịnh.
Vi-n 13 (Mātali):
Hỡi này Vàsana,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lỗi lầm,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
“Vì sợ ta, nó nhẫn”
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài.
Vi-n 14 (Sakka):
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng, ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng,
Thường nhẫn kẻ yếu hèn.
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng,
Bị mắng nhiếc, mắng lại,
Ác hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy đã tự nuôi sống với quả công đức của mình, đã ngự trị và cai trị chư Thiên Tam thập tam thiên, sẽ nói lời tán thán nhẫn nhục và nhu hòa.
Vi-n 16 Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy làm chói sáng pháp luật này bằng cách trong khi xuất gia trong pháp và luật khéo giảng này, hãy thật hành kham nhẫn và nhu hòa.
Sāvatthinidānaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo asure āmantesi:
‘sace, mārisā, devānaṁ asurasaṅgāme samupabyūḷhe asurā jineyyuṁ devā parājineyyuṁ, yena naṁ sakkaṁ devānamindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha asurapuran’ti.
Sakkopi kho, bhikkhave, devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘sace, mārisā, devānaṁ asurasaṅgāme samupabyūḷhe devā jineyyuṁ asurā parājineyyuṁ, yena naṁ vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha sudhammasabhan’ti.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu.
Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā sakkassa devānamindassa santike ānesuṁ sudhammasabhaṁ.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vepacitti asurindo kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho sakkaṁ devānamindaṁ sudhammasabhaṁ pavisantañca nikkhamantañca asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosati paribhāsati.
Atha kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkaṁ devānamindaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
‘Bhayā nu maghavā sakka,
dubbalyā no titikkhasi;
Suṇanto pharusaṁ vācaṁ,
sammukhā vepacittino’ti.
‘Nāhaṁ bhayā na dubbalyā,
khamāmi vepacittino;
Kathañhi mādiso viññū,
bālena paṭisaṁyuje’ti.
‘Bhiyyo bālā pabhijjeyyuṁ,
no cassa paṭisedhako;
Tasmā bhusena daṇḍena,
dhīro bālaṁ nisedhaye’ti.
‘Etadeva ahaṁ maññe,
bālassa paṭisedhanaṁ;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammatī’ti.
‘Etadeva titikkhāya,
vajjaṁ passāmi vāsava;
Yadā naṁ maññati bālo,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Ajjhāruhati dummedho,
gova bhiyyo palāyinan’ti.
‘Kāmaṁ maññatu vā mā vā,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Sadatthaparamā atthā,
khantyā bhiyyo na vijjati.
Yo have balavā santo,
dubbalassa titikkhati;
Tamāhu paramaṁ khantiṁ,
niccaṁ khamati dubbalo.
Abalaṁ taṁ balaṁ āhu,
yassa bālabalaṁ balaṁ;
Balassa dhammaguttassa,
paṭivattā na vijjati.
Tasseva tena pāpiyo,
yo kuddhaṁ paṭikujjhati;
Kuddhaṁ appaṭikujjhanto,
saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁ.
Ubhinnamatthaṁ carati,
attano ca parassa ca;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammati.
Ubhinnaṁ tikicchantānaṁ,
attano ca parassa ca;
Janā maññanti bāloti,
ye dhammassa akovidā’ti.
So hi nāma, bhikkhave, sakko devānamindo sakaṁ puññaphalaṁ upajīvamāno devānaṁ tāvatiṁsānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kārento khantisoraccassa vaṇṇavādī bhavissati.
Idha kho taṁ, bhikkhave, sobhetha yaṁ tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā khamā ca bhaveyyātha soratā cā”ti.
At Savatthī. The Blessed One said this: sn.i.221
SC 1“Once in the past, bhikkhus, the devas and the asuras were arrayed for battle. Then Vepacitti, lord of the asuras, addressed the asuras thus: ‘Dear sirs, in the impending battle between the devas and the asuras, if the asuras win and the devas are defeated, bind Sakka, lord of the devas, by his four limbs and neck and bring him to me in the city of the asuras.’ And Sakka, lord of the devas, addressed the Tavatiṁsa devas thus: ‘Dear sirs, in the impending battle between the devas and the asuras, if the devas win and the asuras are defeated, bind Vepacitti, lord of the asuras, by his four limbs and neck and bring him to me in the Sudhamma assembly hall.’
SC 2“In that battle, bhikkhus, the devas won and the asuras were defeated. Then the Tavatiṁsa devas bound Vepacitti by his four limbs and neck and brought him to Sakka in the Sudhamma assembly hall. When Sakka was entering and leaving the Sudhamma assembly hall, Vepacitti, bound by his four limbs and neck, abused and reviled him with rude, harsh words. Then, bhikkhus, Matali the charioteer addressed Sakka, lord of the devas, in verse:
SC 3 “‘When face to face with Vepacitti
Is it, Maghava, from fear or weakness
That you endure him so patiently,
Listening to his harsh words?’
Sakka:
SC 4 “‘It is neither through fear nor weakness
That I am patient with Vepacitti.
How can a wise person like me
Engage in combat with a fool?’
Matali:
SC 5 “‘Fools would vent their anger even more
If no one would keep them in check.
Hence with drastic punishment
The wise man should restrain the fool.’
Sakka:
SC 6 “‘I myself think this alone
Is the way to check the fool:
When one knows one’s foe is angry
One mindfully maintains one’s peace.’
Matali:
SC 7 “‘I see this fault, O Vasava,
In practising patient endurance:
When the fool thinks of you thus,
“He endures me out of fear,”
The dolt will chase you even more
As a bull does one who flees.’ sn.i.222
Sakka:
SC 8 “‘Let it be whether or not he thinks,
“He endures me out of fear,”
Of goals that culminate in one’s own good
None is found better than patience.
SC 9 “‘When a person endowed with strength
Patiently endures a weakling,
They call that the supreme patience;
The weakling must be patient always.
SC 10 “‘They call that strength no strength at all—
The strength that is the strength of folly—
But no one can reproach a person
Who is strong because guarded by Dhamma.
SC 11 “‘One who repays an angry man with anger
Thereby makes things worse for himself.
Not repaying an angry man with anger,
One wins a battle hard to win.
SC 12 “‘He practises for the welfare of both,
His own and the other’s,
When, knowing that his foe is angry,
He mindfully maintains his peace.
SC 13 “‘When he achieves the cure of both—
His own and the other’s—
The people who consider him a fool
Are unskilled in the Dhamma.’
SC 14“So, bhikkhus, if Sakka, lord of the devas, subsisting on the fruit of his own merit, exercising supreme sovereignty and rulership over the Tavatiṁsa devas, will be one who speaks in praise of patience and gentleness, then how much more would it be fitting here for you, who have gone forth in such a well-expounded Dhamma and Discipline, to be patient and gentle.”
Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana … (như trên) …
Vi-n 2 Thế Tôn thuyết như sau:
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các Asura, rất là khốc liệt.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la gọi các A-tu-la:
“—Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la, rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka (hai tay, hai chân) và thứ năm là cổ và dắt vị ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la.”
Vi-n 5 Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
“—Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói Vepacitti, vua các A-tu-la hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vị ấy lên trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)”.
Vi-n 6 Nhưng này các Tỷ-kheo trong trận chiến ấy chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên trói A-tu-la vương Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka, trong giảng đường Sudhamma.
Vi-n 8 Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua các A-tu-la, Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, khi Thiên chủ Sakka đi vào và đi ra khỏi giảng đường Sudhamma, nhiếc mắng, mạ lị Thiên chủ Sakka với những lời thô ác, độc ngữ.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ—kheo, người đánh xe Mātali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Này Thiên chủ Sakka,
Có phải là Ông sợ,
Hay vì Ông yếu hèn,
Nên mới phải kham nhẫn,
Khi Ông nghe ác ngữ,
Từ Vepacitti?
Vi-n 10 (Sakka):
Không phải vì sợ hãi,
Không phải vì yếu hèn,
Mà ta phải kham nhẫn,
Với Vepacitti.
Sao kẻ trí như ta,
Lại liên hệ người ngu?
Vi-n 11 (Mātali):
Kẻ ngu càng nổi khùng,
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
Vi-n 12 (Sakka):
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ đối trị người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm tâm an tịnh.
Vi-n 13 (Mātali):
Hỡi này Vàsana,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lỗi lầm,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
“Vì sợ ta, nó nhẫn”
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài.
Vi-n 14 (Sakka):
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng, ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng,
Thường nhẫn kẻ yếu hèn.
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng,
Bị mắng nhiếc, mắng lại,
Ác hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy đã tự nuôi sống với quả công đức của mình, đã ngự trị và cai trị chư Thiên Tam thập tam thiên, sẽ nói lời tán thán nhẫn nhục và nhu hòa.
Vi-n 16 Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy làm chói sáng pháp luật này bằng cách trong khi xuất gia trong pháp và luật khéo giảng này, hãy thật hành kham nhẫn và nhu hòa.
Sāvatthinidānaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo asure āmantesi:
‘sace, mārisā, devānaṁ asurasaṅgāme samupabyūḷhe asurā jineyyuṁ devā parājineyyuṁ, yena naṁ sakkaṁ devānamindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha asurapuran’ti.
Sakkopi kho, bhikkhave, devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi:
‘sace, mārisā, devānaṁ asurasaṅgāme samupabyūḷhe devā jineyyuṁ asurā parājineyyuṁ, yena naṁ vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha sudhammasabhan’ti.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu.
Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā vepacittiṁ asurindaṁ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā sakkassa devānamindassa santike ānesuṁ sudhammasabhaṁ.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vepacitti asurindo kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho sakkaṁ devānamindaṁ sudhammasabhaṁ pavisantañca nikkhamantañca asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosati paribhāsati.
Atha kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkaṁ devānamindaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
‘Bhayā nu maghavā sakka,
dubbalyā no titikkhasi;
Suṇanto pharusaṁ vācaṁ,
sammukhā vepacittino’ti.
‘Nāhaṁ bhayā na dubbalyā,
khamāmi vepacittino;
Kathañhi mādiso viññū,
bālena paṭisaṁyuje’ti.
‘Bhiyyo bālā pabhijjeyyuṁ,
no cassa paṭisedhako;
Tasmā bhusena daṇḍena,
dhīro bālaṁ nisedhaye’ti.
‘Etadeva ahaṁ maññe,
bālassa paṭisedhanaṁ;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammatī’ti.
‘Etadeva titikkhāya,
vajjaṁ passāmi vāsava;
Yadā naṁ maññati bālo,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Ajjhāruhati dummedho,
gova bhiyyo palāyinan’ti.
‘Kāmaṁ maññatu vā mā vā,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Sadatthaparamā atthā,
khantyā bhiyyo na vijjati.
Yo have balavā santo,
dubbalassa titikkhati;
Tamāhu paramaṁ khantiṁ,
niccaṁ khamati dubbalo.
Abalaṁ taṁ balaṁ āhu,
yassa bālabalaṁ balaṁ;
Balassa dhammaguttassa,
paṭivattā na vijjati.
Tasseva tena pāpiyo,
yo kuddhaṁ paṭikujjhati;
Kuddhaṁ appaṭikujjhanto,
saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁ.
Ubhinnamatthaṁ carati,
attano ca parassa ca;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammati.
Ubhinnaṁ tikicchantānaṁ,
attano ca parassa ca;
Janā maññanti bāloti,
ye dhammassa akovidā’ti.
So hi nāma, bhikkhave, sakko devānamindo sakaṁ puññaphalaṁ upajīvamāno devānaṁ tāvatiṁsānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kārento khantisoraccassa vaṇṇavādī bhavissati.
Idha kho taṁ, bhikkhave, sobhetha yaṁ tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā khamā ca bhaveyyātha soratā cā”ti.