Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta trú ở Magadha, tại làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả của Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 3 Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.
Vi-n 4 Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sāriputta đi đến Sāvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, rồi ngồi xuống một bên.. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ānanda:
—Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung. Ðây là y bát của vị ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.
—Thưa vâng, Thượng tọa.
Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ānanda.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Ānanda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: “Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung. Ðây là y và bát của vị ấy”. Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung.
Vi-n 7 —Này Ānanda, Sāriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sāriputta là tinh ba của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp.
Vi-n 8 —Này Ānanda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ānanda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 9 Ví như, này Ānanda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ānanda, từ nơi chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sāriputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ānanda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 10 Do vậy, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác. Này Ānanda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác?
Vi-n 11 Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … trú, quán thọ trên các thọ … trú, quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Vi-n 12 Này Ānanda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác; những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Cundo ca samaṇuddeso āyasmato sāriputtassa upaṭṭhāko hoti.
Atha kho āyasmā sāriputto teneva ābādhena parinibbāyi.
Atha kho cundo samaṇuddeso āyasmato sāriputtassa pattacīvaramādāya yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho cundo samaṇuddeso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, sāriputto parinibbuto.
Idamassa pattacīvaran”ti.
“Atthi kho idaṁ, āvuso cunda, kathāpābhataṁ bhagavantaṁ dassanāya.
Āyāmāvuso cunda, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā bhagavato etamatthaṁ ārocessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo samaṇuddeso āyasmato ānandassa paccassosi.
Atha kho āyasmā ca ānando cundo ca samaṇuddeso yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, cundo samaṇuddeso evamāha:
‘āyasmā, bhante, sāriputto parinibbuto;
idamassa pattacīvaran’ti.
Api ca me, bhante, madhurakajāto viya kāyo, disāpi me na pakkhāyanti, dhammāpi maṁ nappaṭibhanti ‘āyasmā sāriputto parinibbuto’ti sutvā”.
“Kiṁ nu kho te, ānanda, sāriputto sīlakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, samādhikkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, paññākkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, vimuttikkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto”ti?
“Na ca kho me, bhante, āyasmā sāriputto sīlakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, samādhikkhandhaṁ vā …pe…
paññākkhandhaṁ vā …pe…
vimuttikkhandhaṁ vā …pe…
vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto.
Api ca me, bhante, āyasmā sāriputto ovādako ahosi otiṇṇo viññāpako sandassako samādapako samuttejako sampahaṁsako, akilāsu dhammadesanāya, anuggāhako sabrahmacārīnaṁ.
Taṁ mayaṁ āyasmato sāriputtassa dhammojaṁ dhammabhogaṁ dhammānuggahaṁ anussarāmā”ti.
“Nanu taṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbehi piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo.
Taṁ kutettha, ānanda, labbhā. Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Seyyathāpi, ānanda, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato yo mahantataro khandho so palujjeyya;
evameva kho ānanda, mahato bhikkhusaṅghassa tiṭṭhato sāravato sāriputto parinibbuto.
Taṁ kutettha, ānanda, labbhā. Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjī’ti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Tasmātihānanda, attadīpā viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā.
Kathañcānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo?
Idhānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.
Ye hi keci, ānanda, etarahi vā mamaccaye vā attadīpā viharissanti attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā; tamatagge mete, ānanda, bhikkhū bhavissanti ye keci sikkhākāmā”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Now on that occasion the Venerable Sāriputta was dwelling among the Magadhans at Nalakagama—sick, afflicted, gravely ill—and the novice Cunda was his attendant. Then, because of that illness, the Venerable Sāriputta attained final Nibbāna.
SC 2The novice Cunda, taking the Venerable Sāriputta’s bowl and robe, went to Savatthi, to Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. There he approached the Venerable Ānanda, paid homage to him, sat down to one side, and said to him: sn.v.162 “Venerable sir, the Venerable Sāriputta has attained final Nibbāna. This is his bowl and robe.”
SC 3“Friend Cunda, we should see the Blessed One about this piece of news. Come, friend Cunda, let us go to the Blessed One and report this matter to him.”
“Yes, venerable sir,” the novice Cunda replied.
SC 4Then the Venerable Ānanda and the novice Cunda approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Venerable Ānanda then said to the Blessed One: “This novice Cunda, venerable sir, says that the Venerable Sāriputta has attained final Nibbāna, and this is his bowl and robe. Venerable sir, since I heard that the Venerable Sāriputta has attained final Nibbāna, my body seems as if it has been drugged, I have become disoriented, the teachings are no longer clear to me.”
SC 5“Why, Ānanda, when Sāriputta attained final Nibbāna, did he take away your aggregate of virtue, or your aggregate of concentration, or your aggregate of wisdom, or your aggregate of liberation, or your aggregate of the knowledge and vision of liberation?”
SC 6“No, he did not, venerable sir. But for me the Venerable Sāriputta was an advisor and counsellor, one who instructed, exhorted, inspired, and gladdened me. He was unwearying in teaching the Dhamma; he was helpful to his brothers in the holy life. We recollect the nourishment of Dhamma, the wealth of Dhamma, the help of Dhamma given by the Venerable Sāriputta.”
SC 7“But have I not already declared, Ānanda, that we must be parted, separated, and severed from all who are dear and agreeable to us? sn.v.163 How, Ānanda, is it to be obtained here: ‘May what is born, come to be, conditioned, and subject to disintegration not disintegrate!’? That is impossible. It is just as if the largest branch would break off a great tree standing possessed of heartwood: so too, Ānanda, in the great Bhikkhu Saṅgha standing possessed of heartwood, Sāriputta has attained final Nibbāna. How, Ānanda, is it to be obtained here: ‘May what is born, come to be, conditioned, and subject to disintegration not disintegrate!’? That is impossible.
SC 8“Therefore, Ānanda, dwell with yourselves as your own island, with yourselves as your own refuge, with no other refuge; dwell with the Dhamma as your island, with the Dhamma as your refuge, with no other refuge … as in §9 … Those bhikkhus, Ānanda, either now or after I am gone, who dwell with themselves as their own island, with themselves as their own refuge, with no other refuge; who dwell with the Dhamma as their island, with the Dhamma as their refuge, with no other refuge—it is these bhikkhus, Ānanda, who will be for me topmost of those keen on the training.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta trú ở Magadha, tại làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả của Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 3 Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.
Vi-n 4 Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sāriputta đi đến Sāvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, rồi ngồi xuống một bên.. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ānanda:
—Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung. Ðây là y bát của vị ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.
—Thưa vâng, Thượng tọa.
Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ānanda.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Ānanda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: “Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung. Ðây là y và bát của vị ấy”. Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung.
Vi-n 7 —Này Ānanda, Sāriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sāriputta là tinh ba của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp.
Vi-n 8 —Này Ānanda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ānanda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 9 Ví như, này Ānanda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ānanda, từ nơi chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sāriputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ānanda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: “Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!”? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 10 Do vậy, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác. Này Ānanda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác?
Vi-n 11 Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … trú, quán thọ trên các thọ … trú, quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Vi-n 12 Này Ānanda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác; những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Cundo ca samaṇuddeso āyasmato sāriputtassa upaṭṭhāko hoti.
Atha kho āyasmā sāriputto teneva ābādhena parinibbāyi.
Atha kho cundo samaṇuddeso āyasmato sāriputtassa pattacīvaramādāya yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho cundo samaṇuddeso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“āyasmā, bhante, sāriputto parinibbuto.
Idamassa pattacīvaran”ti.
“Atthi kho idaṁ, āvuso cunda, kathāpābhataṁ bhagavantaṁ dassanāya.
Āyāmāvuso cunda, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā bhagavato etamatthaṁ ārocessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo samaṇuddeso āyasmato ānandassa paccassosi.
Atha kho āyasmā ca ānando cundo ca samaṇuddeso yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, cundo samaṇuddeso evamāha:
‘āyasmā, bhante, sāriputto parinibbuto;
idamassa pattacīvaran’ti.
Api ca me, bhante, madhurakajāto viya kāyo, disāpi me na pakkhāyanti, dhammāpi maṁ nappaṭibhanti ‘āyasmā sāriputto parinibbuto’ti sutvā”.
“Kiṁ nu kho te, ānanda, sāriputto sīlakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, samādhikkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, paññākkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, vimuttikkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto”ti?
“Na ca kho me, bhante, āyasmā sāriputto sīlakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto, samādhikkhandhaṁ vā …pe…
paññākkhandhaṁ vā …pe…
vimuttikkhandhaṁ vā …pe…
vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ vā ādāya parinibbuto.
Api ca me, bhante, āyasmā sāriputto ovādako ahosi otiṇṇo viññāpako sandassako samādapako samuttejako sampahaṁsako, akilāsu dhammadesanāya, anuggāhako sabrahmacārīnaṁ.
Taṁ mayaṁ āyasmato sāriputtassa dhammojaṁ dhammabhogaṁ dhammānuggahaṁ anussarāmā”ti.
“Nanu taṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbehi piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo.
Taṁ kutettha, ānanda, labbhā. Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Seyyathāpi, ānanda, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato yo mahantataro khandho so palujjeyya;
evameva kho ānanda, mahato bhikkhusaṅghassa tiṭṭhato sāravato sāriputto parinibbuto.
Taṁ kutettha, ānanda, labbhā. Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjī’ti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Tasmātihānanda, attadīpā viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā.
Kathañcānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo?
Idhānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.
Ye hi keci, ānanda, etarahi vā mamaccaye vā attadīpā viharissanti attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā; tamatagge mete, ānanda, bhikkhū bhavissanti ye keci sikkhākāmā”ti.
Tatiyaṁ.