Vi-n 1 Rồi Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
Vi-n 2
Ôi này Bà-la-môn,
Tinh tấn, cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc phải làm,
Cần kiên trì, tinh tấn.
Xuất gia, nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay.
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.
Vi-n 3 Thiên tử Tàyana nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, liền gọi các Tỷ-kheo.
Vi-n 5 —Này các Tỷ-kheo, đêm nay Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước mặt Ta:
Vi-n 6
“Ôi này Bà-la-môn
Tinh tấn cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc khó làm,
Cần kiên trì tinh tấn,
Xuất gia nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay,
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.”
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Tàyana nói như vậy. Nói vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy đọc bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, hãy học thuộc lòng bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, bài kệ của Tàyana có đầy đủ nghĩa lợi và chính là căn bản của Phạm hạnh.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho tāyano devaputto purāṇatitthakaro abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhito kho tāyano devaputto bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Chinda sotaṁ parakkamma,
kāme panuda brāhmaṇa;
Nappahāya munī kāme,
nekattamupapajjati.
Kayirā ce kayirāthenaṁ,
daḷhamenaṁ parakkame;
Sithilo hi paribbājo,
bhiyyo ākirate rajaṁ.
Akataṁ dukkaṭaṁ seyyo,
pacchā tapati dukkaṭaṁ;
Katañca sukataṁ seyyo,
yaṁ katvā nānutappati.
Kuso yathā duggahito,
hatthamevānukantati;
Sāmaññaṁ dupparāmaṭṭhaṁ,
nirayāyūpakaḍḍhati.
Yaṁ kiñci sithilaṁ kammaṁ,
saṅkiliṭṭhañca yaṁ vataṁ;
Saṅkassaraṁ brahmacariyaṁ,
na taṁ hoti mahapphalan”ti.
Idamavoca tāyano devaputto;
idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
“imaṁ, bhikkhave, rattiṁ tāyano nāma devaputto purāṇatitthakaro abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhito kho, bhikkhave, tāyano devaputto mama santike imā gāthāyo abhāsi:
‘Chinda sotaṁ parakkamma,
kāme panuda brāhmaṇa;
Nappahāya munī kāme,
nekattamupapajjati.
Kayirā ce kayirāthenaṁ,
daḷhamenaṁ parakkame;
Sithilo hi paribbājo,
bhiyyo ākirate rajaṁ.
Akataṁ dukkaṭaṁ seyyo,
pacchā tapati dukkaṭaṁ;
Katañca sukataṁ seyyo,
yaṁ katvā nānutappati.
Kuso yathā duggahito,
hatthamevānukantati;
Sāmaññaṁ dupparāmaṭṭhaṁ,
nirayāyūpakaḍḍhati.
Yaṁ kiñci sithilaṁ kammaṁ,
saṅkiliṭṭhañca yaṁ vataṁ;
Saṅkassaraṁ brahmacariyaṁ,
na taṁ hoti mahapphalan’ti.
Idamavoca, bhikkhave, tāyano devaputto, idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Uggaṇhātha, bhikkhave, tāyanagāthā;
pariyāpuṇātha, bhikkhave, tāyanagāthā;
dhāretha, bhikkhave, tāyanagāthā.
Atthasaṁhitā, bhikkhave, tāyanagāthā ādibrahmacariyikā”ti.
At Sāvatthī.
Then, late at night, the glorious godling Tāyana, formerly a religious founder, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side,
and recited these verses in the Buddha’s presence:
“Cut the stream after striving!
Cast aside sensual pleasures, brahmin.
A sage who doesn’t give up sensual pleasures
is not reborn in a unified state.
If one is to do what should be done,
one should staunchly strive.
For the life gone forth when laxly led
just stirs up dust all the more.
A bad deed is better left undone,
for it will plague you later on.
A good deed is better done,
one that does not plague you.
When kusa grass is wrongly grasped
it only cuts the hand.
So too, the ascetic life, when wrongly taken,
drags you to hell.
Any lax act,
any corrupt observance,
or suspicious spiritual life,
is not very fruitful.”
That’s what the godling Tāyana said.
Then he bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right side, before vanishing right there.
Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened.
“Mendicants, tonight, the glorious godling Tāyana, formerly a religious founder, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side,
and recited these verses in my presence.” The Buddha repeated the verses in full, adding:
“That’s what the godling Tāyana said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there.
Mendicants, learn the verses of Tāyana!
Memorize the verses of Tāyana!
Remember the verses of Tāyana!
These verses are beneficial and relate to the fundamentals of the spiritual life.”
Vi-n 1 Rồi Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
Vi-n 2
Ôi này Bà-la-môn,
Tinh tấn, cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc phải làm,
Cần kiên trì, tinh tấn.
Xuất gia, nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay.
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.
Vi-n 3 Thiên tử Tàyana nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, liền gọi các Tỷ-kheo.
Vi-n 5 —Này các Tỷ-kheo, đêm nay Thiên tử Tàyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tàyana nói lên bài kệ này trước mặt Ta:
Vi-n 6
“Ôi này Bà-la-môn
Tinh tấn cắt dòng nước,
Ðoạn trừ và tiêu diệt,
Mọi tham đắm dục vọng.
Ẩn sĩ không đoạn dục,
Không chứng được nhứt tâm.
Nếu làm việc khó làm,
Cần kiên trì tinh tấn,
Xuất gia nếu biếng nhác,
Càng tung vãi bụi trần.
Không làm, hơn làm dở,
Làm dở sau khổ đau.
Ðã làm nên làm tốt,
Làm tốt không khổ đau.
Như nắm vụng lá cỏ,
Có thể bị đứt tay,
Sa-môn hạnh vụng tu,
Kéo đến cõi địa ngục.
Mọi sở hành biếng nhác,
Mọi hạnh tu ô nhiễm,
Ác hạnh trong Phạm hạnh,
Không đưa đến quả lớn.”
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, Thiên tử Tàyana nói như vậy. Nói vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy đọc bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, hãy học thuộc lòng bài kệ của Tàyana. Này các Tỷ-kheo, bài kệ của Tàyana có đầy đủ nghĩa lợi và chính là căn bản của Phạm hạnh.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho tāyano devaputto purāṇatitthakaro abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhito kho tāyano devaputto bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Chinda sotaṁ parakkamma,
kāme panuda brāhmaṇa;
Nappahāya munī kāme,
nekattamupapajjati.
Kayirā ce kayirāthenaṁ,
daḷhamenaṁ parakkame;
Sithilo hi paribbājo,
bhiyyo ākirate rajaṁ.
Akataṁ dukkaṭaṁ seyyo,
pacchā tapati dukkaṭaṁ;
Katañca sukataṁ seyyo,
yaṁ katvā nānutappati.
Kuso yathā duggahito,
hatthamevānukantati;
Sāmaññaṁ dupparāmaṭṭhaṁ,
nirayāyūpakaḍḍhati.
Yaṁ kiñci sithilaṁ kammaṁ,
saṅkiliṭṭhañca yaṁ vataṁ;
Saṅkassaraṁ brahmacariyaṁ,
na taṁ hoti mahapphalan”ti.
Idamavoca tāyano devaputto;
idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
“imaṁ, bhikkhave, rattiṁ tāyano nāma devaputto purāṇatitthakaro abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhito kho, bhikkhave, tāyano devaputto mama santike imā gāthāyo abhāsi:
‘Chinda sotaṁ parakkamma,
kāme panuda brāhmaṇa;
Nappahāya munī kāme,
nekattamupapajjati.
Kayirā ce kayirāthenaṁ,
daḷhamenaṁ parakkame;
Sithilo hi paribbājo,
bhiyyo ākirate rajaṁ.
Akataṁ dukkaṭaṁ seyyo,
pacchā tapati dukkaṭaṁ;
Katañca sukataṁ seyyo,
yaṁ katvā nānutappati.
Kuso yathā duggahito,
hatthamevānukantati;
Sāmaññaṁ dupparāmaṭṭhaṁ,
nirayāyūpakaḍḍhati.
Yaṁ kiñci sithilaṁ kammaṁ,
saṅkiliṭṭhañca yaṁ vataṁ;
Saṅkassaraṁ brahmacariyaṁ,
na taṁ hoti mahapphalan’ti.
Idamavoca, bhikkhave, tāyano devaputto, idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Uggaṇhātha, bhikkhave, tāyanagāthā;
pariyāpuṇātha, bhikkhave, tāyanagāthā;
dhāretha, bhikkhave, tāyanagāthā.
Atthasaṁhitā, bhikkhave, tāyanagāthā ādibrahmacariyikā”ti.