Vi-n 1 ..
Vi-n 2 Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng”. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.
Vi-n 4-9. Makkhali Gosāla … Nigaṇṭha Nātaputta … Sanjaya Bellaṭṭhiputta … Pakuddha Kaccāyana … vị Ajita Kesakambala này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.
Vi-n 10 Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Sa-môn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau: “Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau”.
Vi-n 11 Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau: “Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?”
Vi-n 12 —Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên. Ta tuyên bố sự sanh khởi, này Vaccha, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.
Vi-n 13 Ví như, này Vaccha, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu (saupàdàna), không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ.
Vi-n 14 —Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
—Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
Vi-n 15 —Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
—Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“Purimāni, bho gotama, divasāni purimatarāni sambahulānaṁ nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ paribbājakānaṁ kutūhalasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
‘ayaṁ kho pūraṇo kassapo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa.
Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tampi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Ayampi kho makkhali gosālo …pe…
ayampi kho nigaṇṭho nāṭaputto …pe…
ayampi kho sañcayo belaṭṭhaputto …pe…
ayampi kho pakudho kaccāno …pe…
ayampi kho ajito kesakambalo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa.
Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tampi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Ayampi kho samaṇo gotamo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa.
Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tañca sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu na byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Api ca kho naṁ evaṁ byākaroti:
“acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā”’ti.
Tassa mayhaṁ, bho gotama, ahu deva kaṅkhā, ahu vicikicchā:
‘kathaṁ nāma samaṇassa gotamassa dhammo abhiññeyyo’”ti?
“Alañhi te, vaccha, kaṅkhituṁ, alaṁ vicikicchituṁ.
Kaṅkhanīye ca pana te ṭhāne vicikicchā uppannā.
Saupādānassa khvāhaṁ, vaccha, upapattiṁ paññāpemi no anupādānassa.
Seyyathāpi, vaccha, aggi saupādāno jalati, no anupādāno;
evameva khvāhaṁ, vaccha, saupādānassa upapattiṁ paññāpemi, no anupādānassā”ti.
“Yasmiṁ, bho gotama, samaye acci vātena khittā dūrampi gacchati, imassa pana bhavaṁ gotamo kiṁ upādānasmiṁ paññāpetī”ti?
“Yasmiṁ kho, vaccha, samaye acci vātena khittā dūrampi gacchati, tamahaṁ vātūpādānaṁ paññāpemi.
Vāto hissa, vaccha, tasmiṁ samaye upādānaṁ hotī”ti.
“Yasmiñca pana, bho gotama, samaye imañca kāyaṁ nikkhipati, satto ca aññataraṁ kāyaṁ anupapanno hoti, imassa pana bhavaṁ gotamo kiṁ upādānasmiṁ paññāpetī”ti?
“Yasmiṁ kho, vaccha, samaye imañca kāyaṁ nikkhipati, satto ca aññataraṁ kāyaṁ anupapanno hoti, tamahaṁ taṇhūpādānaṁ vadāmi.
Taṇhā hissa, vaccha, tasmiṁ samaye upādānaṁ hotī”ti.
Navamaṁ.
SC 1Then the wanderer Vacchagotta approached the Blessed One and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to the Blessed One:
SC 2“In recent days, Master Gotama, a number of ascetics, brahmins, and wanderers of various sects had assembled in the debating hall and were sitting together when this conversation arose among them: ‘This Pūraṇa Kassapa—the leader of an order, the leader of a group, the teacher of a group, the well known and famous spiritual guide considered holy by many people—declares the rebirth of a disciple who has passed away and died thus: “That one was reborn there, that one was reborn there.” And in the case of a disciple who was a person of the highest kind, a supreme person, one who had attained the supreme attainment, when that disciple has passed away and died he also declares his rebirth thus: “That one was reborn there, that one was reborn there.” This Makkhali Gosala … This Nigaṇṭha Nātaputta … This Sañjaya Belaṭṭhiputta … This Pakudha Kaccayana … This Ajita Kesakambalī … when that disciple has passed away sn.iv.399 and died he also declares his rebirth thus: “That one was reborn there, that one was reborn there.” This ascetic Gotama—the leader of an order, the leader of a group, the teacher of a group, the well known and famous spiritual guide considered holy by many people—declares the rebirth of a disciple who has passed away and died thus: “That one was reborn there, that one was reborn there.” But in the case of a disciple who was a person of the highest kind, a supreme person, one who had attained the supreme attainment, when that disciple has passed away and died he does not declare his rebirth thus: “That one was reborn there, that one was reborn there.” Rather, he declares of him: “He cut off craving, severed the fetter, and, by completely breaking through conceit, he has made an end to suffering.”’
SC 3“There was perplexity in me, Master Gotama, there was doubt: ‘How is the Dhamma of the ascetic Gotama to be understood?’”
SC 4“It is fitting for you to be perplexed, Vaccha, it is fitting for you to doubt. Doubt has arisen in you about a perplexing matter. I declare, Vaccha, rebirth for one with fuel, not for one without fuel. Just as a fire burns with fuel, but not without fuel, so, Vaccha, I declare rebirth for one with fuel, not for one without fuel.”
SC 5“Master Gotama, when a flame is flung by the wind and goes some distance, what does Master Gotama declare to be its fuel on that occasion?”
SC 6“When, Vaccha, a flame is flung by the wind and goes some distance, I declare that it is fuelled by the wind. For on that occasion the wind is its fuel.” sn.iv.400
SC 7“And, Master Gotama, when a being has laid down this body but has not yet been reborn in another body, what does Master Gotama declare to be its fuel on that occasion?”
SC 8“When, Vaccha, a being has laid down this body but has not yet been reborn in another body, I declare that it is fuelled by craving. For on that occasion craving is its fuel.”
Vi-n 1 ..
Vi-n 2 Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng”. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.
Vi-n 4-9. Makkhali Gosāla … Nigaṇṭha Nātaputta … Sanjaya Bellaṭṭhiputta … Pakuddha Kaccāyana … vị Ajita Kesakambala này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.
Vi-n 10 Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Sa-môn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau: “Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau”.
Vi-n 11 Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau: “Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?”
Vi-n 12 —Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên. Ta tuyên bố sự sanh khởi, này Vaccha, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.
Vi-n 13 Ví như, này Vaccha, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu (saupàdàna), không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ.
Vi-n 14 —Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
—Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
Vi-n 15 —Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
—Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“Purimāni, bho gotama, divasāni purimatarāni sambahulānaṁ nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ paribbājakānaṁ kutūhalasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
‘ayaṁ kho pūraṇo kassapo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa.
Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tampi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Ayampi kho makkhali gosālo …pe…
ayampi kho nigaṇṭho nāṭaputto …pe…
ayampi kho sañcayo belaṭṭhaputto …pe…
ayampi kho pakudho kaccāno …pe…
ayampi kho ajito kesakambalo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa.
Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tampi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Ayampi kho samaṇo gotamo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa.
Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tañca sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu na byākaroti:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Api ca kho naṁ evaṁ byākaroti:
“acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā”’ti.
Tassa mayhaṁ, bho gotama, ahu deva kaṅkhā, ahu vicikicchā:
‘kathaṁ nāma samaṇassa gotamassa dhammo abhiññeyyo’”ti?
“Alañhi te, vaccha, kaṅkhituṁ, alaṁ vicikicchituṁ.
Kaṅkhanīye ca pana te ṭhāne vicikicchā uppannā.
Saupādānassa khvāhaṁ, vaccha, upapattiṁ paññāpemi no anupādānassa.
Seyyathāpi, vaccha, aggi saupādāno jalati, no anupādāno;
evameva khvāhaṁ, vaccha, saupādānassa upapattiṁ paññāpemi, no anupādānassā”ti.
“Yasmiṁ, bho gotama, samaye acci vātena khittā dūrampi gacchati, imassa pana bhavaṁ gotamo kiṁ upādānasmiṁ paññāpetī”ti?
“Yasmiṁ kho, vaccha, samaye acci vātena khittā dūrampi gacchati, tamahaṁ vātūpādānaṁ paññāpemi.
Vāto hissa, vaccha, tasmiṁ samaye upādānaṁ hotī”ti.
“Yasmiñca pana, bho gotama, samaye imañca kāyaṁ nikkhipati, satto ca aññataraṁ kāyaṁ anupapanno hoti, imassa pana bhavaṁ gotamo kiṁ upādānasmiṁ paññāpetī”ti?
“Yasmiṁ kho, vaccha, samaye imañca kāyaṁ nikkhipati, satto ca aññataraṁ kāyaṁ anupapanno hoti, tamahaṁ taṇhūpādānaṁ vadāmi.
Taṇhā hissa, vaccha, tasmiṁ samaye upādānaṁ hotī”ti.
Navamaṁ.