Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nālaka.
Vi-n 2 Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sāriputta:
: “Niết-bàn, Niết-bàn”, này Hiền giả Sāriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
—Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
—Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
—Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
Vi-n 6 —Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake.
Atha kho jambukhādako paribbājako yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jambukhādako paribbājako āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“‘Nibbānaṁ, nibbānan’ti, āvuso sāriputta, vuccati.
Katamaṁ nu kho, āvuso, nibbānan”ti?
“Yo kho, āvuso, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo—
idaṁ vuccati nibbānan”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti?
“Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etassa nibbānassa sacchikiriyāya, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Ayaṁ kho, āvuso, maggo ayaṁ paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Bhaddako, āvuso, maggo bhaddikā paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāya.
Alañca panāvuso sāriputta, appamādāyā”ti.
Paṭhamaṁ.
At one time Venerable Sāriputta was staying in the land of the Magadhans near the little village of Nālaka.
Then the wanderer Jambukhādaka went up to Venerable Sāriputta and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘extinguishment’.
What is extinguishment?”
“Reverend, the ending of greed, hate, and delusion
is called extinguishment.”
“But, reverend, is there a path and a practice for realizing this extinguishment?”
“There is, reverend.”
“Well, what is it?”
“It is simply this noble eightfold path, that is:
right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
This is the path, the practice, for realizing this extinguishment.”
“Reverend, this is a fine path, a fine practice, for realizing this extinguishment.
Just this much is enough for diligence.”
Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nālaka.
Vi-n 2 Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sāriputta:
: “Niết-bàn, Niết-bàn”, này Hiền giả Sāriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
—Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
—Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
—Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
Vi-n 6 —Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake.
Atha kho jambukhādako paribbājako yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jambukhādako paribbājako āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“‘Nibbānaṁ, nibbānan’ti, āvuso sāriputta, vuccati.
Katamaṁ nu kho, āvuso, nibbānan”ti?
“Yo kho, āvuso, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo—
idaṁ vuccati nibbānan”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti?
“Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etassa nibbānassa sacchikiriyāya, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Ayaṁ kho, āvuso, maggo ayaṁ paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Bhaddako, āvuso, maggo bhaddikā paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāya.
Alañca panāvuso sāriputta, appamādāyā”ti.
Paṭhamaṁ.