Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này.
Vi-n 4 Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, ta có cảm thọ như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ ta có tưởng … có các hành … có thức như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thức.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm … rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.
Vi-n 10 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại.
Vi-n 12 “Ta nay bị thọ chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thọ chinh phục như vậy, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thọ vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thọ chinh phục, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không luyến tiếc đối với thọ quá khứ, không có hoan hỷ đối với thọ vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ hiện tại.
Vi-n 13 “Ta nay bị tưởng chinh phục … ”.
Vi-n 14 “Ta nay bị các hành chinh phục … ”.
Vi-n 15 “Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17-19. —Thọ … Tưởng … Các hành …
Vi-n 20 Thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng … xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 22 Ðối với thọ …
Vi-n 23 Ðối với tưởng …
Vi-n 24 Ðối với các hành.
Vi-n 25 Ðối với thức quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức đều phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 26 Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.
Vi-n 27 Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc…, giảm thiểu, không tăng trưởng thọ … tưởng … các hành … giảm thiểu, không tăng trưởng thức.
Vi-n 28 Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc … thọ … tưởng … các hành … từ bỏ, không chấp thủ thức.
Vi-n 29 Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc … thọ … tưởng … các hành … xa lánh, không thân cận thức.
Vi-n 30 Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc … thọ … tưởng … các hành … phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 31 Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 32 Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo không tăng trưởng, không giảm thiểu. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập.
Vi-n 33 Sau khi phân tán, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu cái gì? Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu sắc. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu thọ … tưởng … các hành … không tăng trưởng, không giảm thiểu thức.
Vi-n 34 Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ sắc; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ thọ … tưởng … các hành … không từ bỏ, không chấp thủ thức.
Vi-n 35 Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận cái gì? Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận sắc; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận thọ … tưởng … các hành … không phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 36 Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập cái gì? Sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập sắc; sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập thọ … tưởng … các hành … không phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 37 Sau khi phân tán, vị ấy trú, với tâm giải thoát như vậy. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ, dầu cho ở xa:
Vi-n 38
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Bậc người như lương mã!
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Là bậc tối thắng nhân!
Ta không có chấp trước,
Ðối tượng Ông Thiền tư!
Sāvatthinidānaṁ.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaramānā anussaranti sabbete pañcupādānakkhandhe anussaranti etesaṁ vā aññataraṁ.
Katame pañca?
‘Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānan’ti—
iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno rūpaṁyeva anussarati.
‘Evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānan’ti—
iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno vedanaṁyeva anussarati.
‘Evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānan’ti …
‘evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānan’ti …
‘evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānan’ti—
iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno viññāṇameva anussarati.
Kiñca, bhikkhave, rūpaṁ vadetha?
Ruppatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘rūpan’ti vuccati.
Kena ruppati?
Sītenapi ruppati, uṇhenapi ruppati, jighacchāyapi ruppati, pipāsāyapi ruppati, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassenapi ruppati.
Ruppatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘rūpan’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, vedanaṁ vadetha?
Vedayatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘vedanā’ti vuccati.
Kiñca vedayati?
Sukhampi vedayati, dukkhampi vedayati, adukkhamasukhampi vedayati.
Vedayatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘vedanā’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, saññaṁ vadetha?
Sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati.
Kiñca sañjānāti?
Nīlampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti.
Sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, saṅkhāre vadetha?
Saṅkhatamabhisaṅkharontīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saṅkhārā’ti vuccati.
Kiñca saṅkhatamabhisaṅkharonti?
Rūpaṁ rūpattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, vedanaṁ vedanattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, saññaṁ saññattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, saṅkhāre saṅkhārattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, viññāṇaṁ viññāṇattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti.
Saṅkhatamabhisaṅkharontīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saṅkhārā’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, viññāṇaṁ vadetha?
Vijānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘viññāṇan’ti vuccati.
Kiñca vijānāti?
Ambilampi vijānāti, tittakampi vijānāti, kaṭukampi vijānāti, madhurampi vijānāti, khārikampi vijānāti, akhārikampi vijānāti, loṇikampi vijānāti, aloṇikampi vijānāti.
Vijānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘viññāṇan’ti vuccati.
Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ahaṁ kho etarahi rūpena khajjāmi.
Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmi.
Ahañceva kho pana anāgataṁ rūpaṁ abhinandeyyaṁ, anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītasmiṁ rūpasmiṁ anapekkho hoti;
anāgataṁ rūpaṁ nābhinandati;
paccuppannassa rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
‘Ahaṁ kho etarahi vedanāya khajjāmi.
Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva vedanāya khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannāya vedanāya khajjāmi.
Ahañceva kho pana anāgataṁ vedanaṁ abhinandeyyaṁ;
anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva vedanāya khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannāya vedanāya khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītāya vedanāya anapekkho hoti;
anāgataṁ vedanaṁ nābhinandati;
paccuppannāya vedanāya nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
‘Ahaṁ kho etarahi saññāya khajjāmi …pe…
ahaṁ kho etarahi saṅkhārehi khajjāmi.
Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva saṅkhārehi khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannehi saṅkhārehi khajjāmīti.
Ahañceva kho pana anāgate saṅkhāre abhinandeyyaṁ;
anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva saṅkhārehi khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannehi saṅkhārehi khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītesu saṅkhāresu anapekkho hoti;
anāgate saṅkhāre nābhinandati;
paccuppannānaṁ saṅkhārānaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
‘Ahaṁ kho etarahi viññāṇena khajjāmi.
Atītampi addhānaṁ evameva viññāṇena khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena viññāṇena khajjāmi.
Ahañceva kho pana anāgataṁ viññāṇaṁ abhinandeyyaṁ;
anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva viññāṇena khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena viññāṇena khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītasmiṁ viññāṇasmiṁ anapekkho hoti;
anāgataṁ viññāṇaṁ nābhinandati;
paccuppannassa viññāṇassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako apacināti, no ācināti;
pajahati, na upādiyati;
visineti, na ussineti;
vidhūpeti, na sandhūpeti.
Kiñca apacināti, no ācināti?
Rūpaṁ apacināti, no ācināti;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ apacināti, no ācināti.
Kiñca pajahati, na upādiyati?
Rūpaṁ pajahati, na upādiyati;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ pajahati, na upādiyati.
Kiñca visineti, na ussineti?
Rūpaṁ visineti, na ussineti;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ visineti, na ussineti.
Kiñca vidhūpeti, na sandhūpeti?
Rūpaṁ vidhūpeti, na sandhūpeti;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ vidhūpeti, na sandhūpeti.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito; neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito; neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito; neva vidhūpeti na sandhūpeti vidhūpetvā ṭhito
Kiñca nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito?
Rūpaṁ nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito.
Kiñca neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito?
Rūpaṁ neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito.
Kiñca neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito?
Rūpaṁ neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito.
Kiñca neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito?
Rūpaṁ neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito.
Evaṁvimuttacittaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuṁ saindā devā sabrahmakā sapajāpatikā ārakāva namassanti:
‘Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Yassa te nābhijānāma,
yampi nissāya jhāyasī’”ti.
Sattamaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, those ascetics and brahmins who recollect their manifold past abodes all recollect the five aggregates subject to clinging or a certain one among them. What five?
SC 2“When recollecting thus, bhikkhus: ‘I had such form in the past,’ it is just form that one recollects. When recollecting: ‘I had such a feeling in the past,’ it is just feeling that one recollects. When recollecting: ‘I had such a perception in the past,’ it is just perception that one recollects. When recollecting: ‘I had such volitional formations in the past,’ it is just volitional formations that one recollects. When recollecting: ‘I had such consciousness in the past,’ it is just consciousness that one recollects.
SC 3“And why, bhikkhus, do you call it form? ‘It is deformed,’ bhikkhus, therefore it is called form. Deformed by what? Deformed by cold, deformed by heat, deformed by hunger, deformed by thirst, deformed by contact with flies, mosquitoes, wind, sun, and serpents. ‘It is deformed,’ bhikkhus, therefore it is called form.
SC 4“And why, bhikkhus, do you call it feeling? ‘It feels,’ bhikkhus, therefore it is called feeling. And what does it feel? It feels pleasure, it feels pain, sn.iii.87 it feels neither-pain-nor-pleasure. ‘It feels,’ bhikkhus, therefore it is called feeling.
SC 5“And why, bhikkhus, do you call it perception? ‘It perceives,’ bhikkhus, therefore it is called perception. And what does it perceive? It perceives blue, it perceives yellow, it perceives red, it perceives white. ‘It perceives,’ bhikkhus, therefore it is called perception.
SC 6“And why, bhikkhus, do you call them volitional formations? ‘They construct the conditioned,’ bhikkhus, therefore they are called volitional formations. And what is the conditioned that they construct? They construct conditioned form as form; they construct conditioned feeling as feeling; they construct conditioned perception as perception; they construct conditioned volitional formations as volitional formations; they construct conditioned consciousness as consciousness. ‘They construct the conditioned,’ bhikkhus, therefore they are called volitional formations.
SC 7“And why, bhikkhus, do you call it consciousness? ‘It cognizes, ’ bhikkhus, therefore it is called consciousness. And what does it cognize? It cognizes sour, it cognizes bitter, it cognizes pungent, it cognizes sweet, it cognizes sharp, it cognizes mild, it cognizes salty, it cognizes bland. ‘It cognizes,’ bhikkhus, therefore it is called consciousness.
SC 8“Therein, bhikkhus, the instructed noble disciple reflects thus: ‘I am now being devoured by form. In the past too I was devoured by form in the very same way that I am now being devoured by present form. If I were to seek delight in future form, then in the future too I shall be devoured by form in the very same way that I am now being devoured by present form.’ Having reflected thus, he becomes indifferent towards past form, he does not seek delight in future form, and he is practising for revulsion towards present form, for its fading away and cessation.
SC 9“He reflects thus: ‘I am now being devoured by feeling.’ … sn.iii.88 … ‘I am now being devoured by perception.’ … ‘I am now being devoured by volitional formations.’ … ‘I am now being devoured by consciousness. In the past too I was devoured by consciousness in the very same way that I am now being devoured by present consciousness. If I were to seek delight in future consciousness, then in the future too I shall be devoured by consciousness in the very same way that I am now being devoured by present consciousness.’ Having reflected thus, he becomes indifferent towards past consciousness, he does not seek delight in future consciousness, and he is practising for revulsion towards present consciousness, for its fading away and cessation.
SC 10“What do you think, bhikkhus, is form permanent or impermanent? … Is feeling … perception … volitional formations … sn.iii.89 consciousness permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering, venerable sir.”—“Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”—“No, venerable sir.”
SC 11“Therefore, bhikkhus, any kind of form whatsoever … Any kind of feeling whatsoever … Any kind of perception whatsoever … Any kind of volitional formations whatsoever … Any kind of consciousness whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all consciousness should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 12“This is called, bhikkhus, a noble disciple who dismantles and does not build up; who abandons and does not cling; who scatters and does not amass; who extinguishes and does not kindle.
SC 13“And what is it that he dismantles and does not build up? He dismantles form and does not build it up. He dismantles feeling … perception … volitional formations … consciousness and does not build it up.
SC 14“And what is it that he abandons and does not cling to? He abandons form and does not cling to it. He abandons feeling … perception … volitional formations … consciousness and does not cling to it.
SC 15“And what is it that he scatters and does not amass? He scatters form and does not amass it. He scatters feeling … perception … volitional formations … consciousness and does not amass it. sn.iii.90
SC 16“And what is it that he extinguishes and does not kindle? He extinguishes form and does not kindle it. He extinguishes feeling … perception … volitional formations … consciousness and does not kindle it.
SC 17“Seeing thus, bhikkhus, the instructed noble disciple experiences revulsion towards form, revulsion towards feeling, revulsion towards perception, revulsion towards volitional formations, revulsion towards consciousness. Experiencing revulsion, he becomes dispassionate. Through dispassion his mind is liberated. When it is liberated there comes the knowledge: ‘It’s liberated.’ He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’
SC 18“This is called, bhikkhus, a noble disciple who neither builds up nor dismantles, but who abides having dismantled; who neither abandons nor clings, but who abides having abandoned; who neither scatters nor amasses, but who abides having scattered; who neither extinguishes nor kindles, but who abides having extinguished.
SC 19“And what is it, bhikkhus, that he neither builds up nor dismantles, but abides having dismantled? He neither builds up nor dismantles form, but abides having dismantled it. He neither builds up nor dismantles feeling … perception … volitional formations … consciousness, but abides having dismantled it.
SC 20“And what is it that he neither abandons nor clings to, but abides having abandoned? He neither abandons nor clings to form, but abides having abandoned it. He neither abandons nor clings to feeling … perception … volitional formations … consciousness, but abides having abandoned it.
SC 21“And what is it that he neither scatters nor amasses, but abides having scattered? He neither scatters nor amasses form, but abides having scattered it. He neither scatters nor amasses feeling … perception … volitional formations … consciousness, but abides having scattered it.
SC 22“And what is it that he neither extinguishes nor kindles, but abides having extinguished? He neither extinguishes nor kindles form, but abides having extinguished it. He neither extinguishes nor kindles feeling … perception … volitional formations … consciousness, but abides having extinguished it.
SC 23“When, bhikkhus, a bhikkhu is thus liberated in mind, the devas together with Indra, Brahma, and Pajapati pay homage to him from afar: sn.iii.91
SC 24“‘Homage to you, O thoroughbred man!
Homage to you, O highest among men!
We ourselves do not directly know
Dependent upon what you meditate.’”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này.
Vi-n 4 Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, ta có cảm thọ như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ ta có tưởng … có các hành … có thức như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thức.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm … rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.
Vi-n 10 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại.
Vi-n 12 “Ta nay bị thọ chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thọ chinh phục như vậy, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thọ vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thọ chinh phục, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không luyến tiếc đối với thọ quá khứ, không có hoan hỷ đối với thọ vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ hiện tại.
Vi-n 13 “Ta nay bị tưởng chinh phục … ”.
Vi-n 14 “Ta nay bị các hành chinh phục … ”.
Vi-n 15 “Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17-19. —Thọ … Tưởng … Các hành …
Vi-n 20 Thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng … xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 22 Ðối với thọ …
Vi-n 23 Ðối với tưởng …
Vi-n 24 Ðối với các hành.
Vi-n 25 Ðối với thức quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức đều phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 26 Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.
Vi-n 27 Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc…, giảm thiểu, không tăng trưởng thọ … tưởng … các hành … giảm thiểu, không tăng trưởng thức.
Vi-n 28 Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc … thọ … tưởng … các hành … từ bỏ, không chấp thủ thức.
Vi-n 29 Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc … thọ … tưởng … các hành … xa lánh, không thân cận thức.
Vi-n 30 Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc … thọ … tưởng … các hành … phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 31 Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 32 Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo không tăng trưởng, không giảm thiểu. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập.
Vi-n 33 Sau khi phân tán, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu cái gì? Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu sắc. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu thọ … tưởng … các hành … không tăng trưởng, không giảm thiểu thức.
Vi-n 34 Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ sắc; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ thọ … tưởng … các hành … không từ bỏ, không chấp thủ thức.
Vi-n 35 Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận cái gì? Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận sắc; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận thọ … tưởng … các hành … không phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 36 Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập cái gì? Sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập sắc; sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập thọ … tưởng … các hành … không phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 37 Sau khi phân tán, vị ấy trú, với tâm giải thoát như vậy. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ, dầu cho ở xa:
Vi-n 38
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Bậc người như lương mã!
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Là bậc tối thắng nhân!
Ta không có chấp trước,
Ðối tượng Ông Thiền tư!
Sāvatthinidānaṁ.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaramānā anussaranti sabbete pañcupādānakkhandhe anussaranti etesaṁ vā aññataraṁ.
Katame pañca?
‘Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānan’ti—
iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno rūpaṁyeva anussarati.
‘Evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānan’ti—
iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno vedanaṁyeva anussarati.
‘Evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānan’ti …
‘evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānan’ti …
‘evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānan’ti—
iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno viññāṇameva anussarati.
Kiñca, bhikkhave, rūpaṁ vadetha?
Ruppatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘rūpan’ti vuccati.
Kena ruppati?
Sītenapi ruppati, uṇhenapi ruppati, jighacchāyapi ruppati, pipāsāyapi ruppati, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassenapi ruppati.
Ruppatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘rūpan’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, vedanaṁ vadetha?
Vedayatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘vedanā’ti vuccati.
Kiñca vedayati?
Sukhampi vedayati, dukkhampi vedayati, adukkhamasukhampi vedayati.
Vedayatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘vedanā’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, saññaṁ vadetha?
Sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati.
Kiñca sañjānāti?
Nīlampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti.
Sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, saṅkhāre vadetha?
Saṅkhatamabhisaṅkharontīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saṅkhārā’ti vuccati.
Kiñca saṅkhatamabhisaṅkharonti?
Rūpaṁ rūpattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, vedanaṁ vedanattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, saññaṁ saññattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, saṅkhāre saṅkhārattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, viññāṇaṁ viññāṇattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti.
Saṅkhatamabhisaṅkharontīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saṅkhārā’ti vuccati.
Kiñca, bhikkhave, viññāṇaṁ vadetha?
Vijānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘viññāṇan’ti vuccati.
Kiñca vijānāti?
Ambilampi vijānāti, tittakampi vijānāti, kaṭukampi vijānāti, madhurampi vijānāti, khārikampi vijānāti, akhārikampi vijānāti, loṇikampi vijānāti, aloṇikampi vijānāti.
Vijānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘viññāṇan’ti vuccati.
Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ahaṁ kho etarahi rūpena khajjāmi.
Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmi.
Ahañceva kho pana anāgataṁ rūpaṁ abhinandeyyaṁ, anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītasmiṁ rūpasmiṁ anapekkho hoti;
anāgataṁ rūpaṁ nābhinandati;
paccuppannassa rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
‘Ahaṁ kho etarahi vedanāya khajjāmi.
Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva vedanāya khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannāya vedanāya khajjāmi.
Ahañceva kho pana anāgataṁ vedanaṁ abhinandeyyaṁ;
anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva vedanāya khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannāya vedanāya khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītāya vedanāya anapekkho hoti;
anāgataṁ vedanaṁ nābhinandati;
paccuppannāya vedanāya nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
‘Ahaṁ kho etarahi saññāya khajjāmi …pe…
ahaṁ kho etarahi saṅkhārehi khajjāmi.
Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva saṅkhārehi khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannehi saṅkhārehi khajjāmīti.
Ahañceva kho pana anāgate saṅkhāre abhinandeyyaṁ;
anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva saṅkhārehi khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannehi saṅkhārehi khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītesu saṅkhāresu anapekkho hoti;
anāgate saṅkhāre nābhinandati;
paccuppannānaṁ saṅkhārānaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
‘Ahaṁ kho etarahi viññāṇena khajjāmi.
Atītampi addhānaṁ evameva viññāṇena khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena viññāṇena khajjāmi.
Ahañceva kho pana anāgataṁ viññāṇaṁ abhinandeyyaṁ;
anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva viññāṇena khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena viññāṇena khajjāmī’ti.
So iti paṭisaṅkhāya atītasmiṁ viññāṇasmiṁ anapekkho hoti;
anāgataṁ viññāṇaṁ nābhinandati;
paccuppannassa viññāṇassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako apacināti, no ācināti;
pajahati, na upādiyati;
visineti, na ussineti;
vidhūpeti, na sandhūpeti.
Kiñca apacināti, no ācināti?
Rūpaṁ apacināti, no ācināti;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ apacināti, no ācināti.
Kiñca pajahati, na upādiyati?
Rūpaṁ pajahati, na upādiyati;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ pajahati, na upādiyati.
Kiñca visineti, na ussineti?
Rūpaṁ visineti, na ussineti;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ visineti, na ussineti.
Kiñca vidhūpeti, na sandhūpeti?
Rūpaṁ vidhūpeti, na sandhūpeti;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ vidhūpeti, na sandhūpeti.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito; neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito; neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito; neva vidhūpeti na sandhūpeti vidhūpetvā ṭhito
Kiñca nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito?
Rūpaṁ nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito.
Kiñca neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito?
Rūpaṁ neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito.
Kiñca neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito?
Rūpaṁ neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito.
Kiñca neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito?
Rūpaṁ neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito;
vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito.
Evaṁvimuttacittaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuṁ saindā devā sabrahmakā sapajāpatikā ārakāva namassanti:
‘Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Yassa te nābhijānāma,
yampi nissāya jhāyasī’”ti.
Sattamaṁ.