Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 3 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Vi-n 4 Người câu cá, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỷ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Vi-n 5 Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Vi-n 6 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải học tập như sau: “Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
Vi-n 8 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Seyyathāpi, bhikkhave, bāḷisiko āmisagataṁ baḷisaṁ gambhīre udakarahade pakkhipeyya.
Tamenaṁ aññataro āmisacakkhu maccho gileyya.
Evañhi so, bhikkhave, maccho gilabaḷiso bāḷisikassa anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo bāḷisikassa.
Bāḷisikoti kho, bhikkhave, mārassetaṁ pāpimato adhivacanaṁ.
Baḷisanti kho, bhikkhave, lābhasakkārasilokassetaṁ adhivacanaṁ.
Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ assādeti nikāmeti, ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu gilabaḷiso mārassa anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo pāpimato.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ pajahissāma, na ca no uppanno lābhasakkārasiloko cittaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dutiyaṁ.
At Sāvatthī.
“Possessions, honor, and popularity are grim, bitter, and harsh. They’re an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
Suppose an angler was to cast a baited hook into a deep lake.
Seeing the bait, a fish would swallow it.
And so the fish that swallowed the hook would meet with tragedy and disaster, and the angler can do what he wants with it.
‘Angler’ is a term for Māra the Wicked.
‘Hook’ is a term for possessions, honor, and popularity.
Whoever enjoys and likes arisen possessions, honor, and popularity is called a mendicant who has swallowed Māra’s hook. They’ve met with tragedy and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.
So grim are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this:
‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’
That’s how you should train.”
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 3 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Vi-n 4 Người câu cá, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỷ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Vi-n 5 Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Vi-n 6 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải học tập như sau: “Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
Vi-n 8 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Seyyathāpi, bhikkhave, bāḷisiko āmisagataṁ baḷisaṁ gambhīre udakarahade pakkhipeyya.
Tamenaṁ aññataro āmisacakkhu maccho gileyya.
Evañhi so, bhikkhave, maccho gilabaḷiso bāḷisikassa anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo bāḷisikassa.
Bāḷisikoti kho, bhikkhave, mārassetaṁ pāpimato adhivacanaṁ.
Baḷisanti kho, bhikkhave, lābhasakkārasilokassetaṁ adhivacanaṁ.
Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ assādeti nikāmeti, ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu gilabaḷiso mārassa anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo pāpimato.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ pajahissāma, na ca no uppanno lābhasakkārasiloko cittaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dutiyaṁ.