Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 5 —Có một pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận … trạng thái này nữa”.
Vi-n 6 Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 7 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
—Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 8-11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc …
Vi-n 12 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết rõ nội tâm có tham, sân, si: “Nội tâm ta có tham, sân, si”, hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, sự biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
Vi-n 13 —Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
“Atthi nu kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākareyya:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“atthi, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākareyya:
‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti.
Katamo ca, bhikkhave, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya …pe… aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti;
asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti.
Yaṁ taṁ, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti. Api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayaṁ kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti:
‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā santaṁ vā ajjhattaṁ …pe… rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti.
Yaṁ taṁ, bhikkhave, jivhāya rasaṁ sāyitvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayampi kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti;
asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti.
Yaṁ taṁ, bhikkhave, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayampi kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti:
‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1“Is there a method of exposition, bhikkhus, by means of which a bhikkhu—apart from faith, apart from personal preference, apart from oral tradition, apart from reasoned reflection, apart from acceptance of a view after pondering it —sn.iv.139 can declare final knowledge thus: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being’?”
SC 2“Venerable sir, our teachings are rooted in the Blessed One, guided by the Blessed One, take recourse in the Blessed One. It would be good if the Blessed One would clear up the meaning of this statement. Having heard it from him, the bhikkhus will remember it.”
SC 3“Then listen and attend closely, bhikkhus, I will speak.”
SC 4“Yes, venerable sir,” the bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 5“There is a method of exposition by means of which a bhikkhu—apart from faith … apart from acceptance of a view after pondering it—can declare final knowledge thus: ‘Destroyed is birth … there is no more for this state of being.’ And what is that method of exposition? Here, bhikkhus, having seen a form with the eye, if there is lust, hatred, or delusion internally, a bhikkhu understands: ‘There is lust, hatred, or delusion internally’; or, if there is no lust, hatred, or delusion internally, he understands: ‘There is no lust, hatred, or delusion internally.’ Since this is so, are these things to be understood by faith, or by personal preference, or by oral tradition, or by reasoned reflection, or by acceptance of a view after pondering it?”
“No, venerable sir.”
SC 6“Aren’t these things to be understood by seeing them with wisdom?”
“Yes, venerable sir.”
SC 7“This, bhikkhus, is the method of exposition by means of which a bhikkhu can declare final knowledge thus: ‘Destroyed is birth … there is no more for this state of being.’
SC 8“Further, bhikkhus, having heard a sound with the ear … sn.iv.140 … Having cognized a mental phenomenon with the mind, if there is lust, hatred, or delusion internally, a bhikkhu understands: ‘There is lust, hatred, or delusion internally’; or, if there is no lust, hatred, or delusion internally, he understands: ‘There is no lust, hatred, or delusion internally.’ Since this is so, are these things to be understood by faith, or by personal preference, or by oral tradition, or by reasoned reflection, or by acceptance of a view after pondering it?”
“No, venerable sir.”
SC 9“Aren’t these things to be understood by seeing them with wisdom?”
“Yes, venerable sir.”
SC 10“This, bhikkhus, is the method of exposition by means of which a bhikkhu—apart from faith, apart from personal preference, apart from oral tradition, apart from reasoned reflection, apart from acceptance of a view after pondering it—can declare final knowledge thus: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1-2. …
Vi-n 3 —Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 5 —Có một pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận … trạng thái này nữa”.
Vi-n 6 Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 7 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
—Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 8-11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc …
Vi-n 12 Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết rõ nội tâm có tham, sân, si: “Nội tâm ta có tham, sân, si”, hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, sự biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
Vi-n 13 —Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
“Atthi nu kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākareyya:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“atthi, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākareyya:
‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti.
Katamo ca, bhikkhave, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya …pe… aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti;
asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti.
Yaṁ taṁ, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti. Api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayaṁ kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti:
‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā santaṁ vā ajjhattaṁ …pe… rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti.
Yaṁ taṁ, bhikkhave, jivhāya rasaṁ sāyitvā santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayampi kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti: ‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti …pe….
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti;
asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti.
Yaṁ taṁ, bhikkhave, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya santaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, atthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; asantaṁ vā ajjhattaṁ rāgadosamohaṁ, natthi me ajjhattaṁ rāgadosamohoti pajānāti; api nu me, bhikkhave, dhammā saddhāya vā veditabbā, ruciyā vā veditabbā, anussavena vā veditabbā, ākāraparivitakkena vā veditabbā, diṭṭhinijjhānakkhantiyā vā veditabbā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanume, bhikkhave, dhammā paññāya disvā veditabbā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ayampi kho, bhikkhave, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma bhikkhu aññatreva saddhāya, aññatra ruciyā, aññatra anussavā, aññatra ākāraparivitakkā, aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā aññaṁ byākaroti:
‘“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāmī’ti.
Aṭṭhamaṁ.