Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: “Ta sẽ suy tư về thế giới”, và người ấy đi đến hồ sen sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgadhà và suy tư về thế giới.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, người ấy trên bờ hồ sumàgadhà thấy một đoàn quân với bốn loại binh chủng (voi, ngựa, xe, bộ binh) đi vào trong một củ sen; thấy vậy, người ấy nghĩ: “Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời”.
Vi-n 4 Rồi người ấy, này Tỷ-kheo, đi vào trong thành và nói với một quần chúng lớn:
“—Này Quí vị, có lẽ ta phát cuồng; này Quí vị, có lẽ ta điên loạn. Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!”
“—Như thế nào, này Bạn, Bạn phát cuồng? Như thế nào, Bạn điên loạn? Bạn đã thấy gì không thể có ở đời?”
Vi-n 5 “—Thưa Quí vị, tôi đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ suy tư về thế giới’. Tôi đi đến hồ sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgudhà, suy tư về thế giới. Thưa Quí vị, tôi thấy trên bờ hồ sumàgudhà một đoàn quân với bốn loại binh chủng đi vào trong một củ sen. Thấy vậy, thưa Quí vị, tôi nghĩ: ‘Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!’”
“—Thật vậy, này Bạn, Bạn đã phát cuồng. Thật vậy, Bạn bị điên loạn, Bạn đã thấy một điều không thể có ở đời!”
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, điều mà người ấy đã thấy là có thật, không phải không thật. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và loài Asura (A-tu-la) giàn trận để khai chiến. Và này các Tỷ-kheo, trong trận chiến ấy, chư Thiên thắng trận, các Asura bại trận. Các Asura bại trận, này các Tỷ-kheo, hoảng hốt đi vào thành Asura ngang qua củ sen vì quá sợ hãi chư Thiên.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư về thế giới: “Thế giới là thường còn”, hay: “Thế giới là vô thường”, hay: “Thế giới là hữu biên”, hay: “Thế giới là vô biên”, hay: “Mạng sống và thân thể là một”, hay: “Mạng sống và thân thể là khác”, hay: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Vì sao?
Vi-n 8 Các điều suy tư ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 9 Nếu có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: “Ðây là Khổ” … “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?
Vi-n 10 Các suy tư như vậy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, các suy tư ấy làm căn bản cho Phạm hạnh, các suy tư ấy đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 11 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, aññataro puriso rājagahā nikkhamitvā ‘lokacintaṁ cintessāmī’ti yena sumāgadhā pokkharaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre nisīdi lokacintaṁ cintento.
Addasā kho, bhikkhave, so puriso sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre caturaṅginiṁ senaṁ bhisamuḷālaṁ pavisantaṁ.
Disvānassa etadahosi:
‘ummattosmi nāmāhaṁ, vicetosmi nāmāhaṁ.
Yaṁ loke natthi taṁ mayā diṭṭhan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso nagaraṁ pavisitvā mahājanakāyassa ārocesi:
‘ummattosmi nāmāhaṁ, bhante, vicetosmi nāmāhaṁ, bhante.
Yaṁ loke natthi taṁ mayā diṭṭhan’ti.
‘Kathaṁ pana tvaṁ, ambho purisa, ummatto kathaṁ viceto?
Kiñca loke natthi yaṁ tayā diṭṭhan’ti?
‘Idhāhaṁ, bhante, rājagahā nikkhamitvā “lokacintaṁ cintessāmī”ti yena sumāgadhā pokkharaṇī tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre nisīdiṁ lokacintaṁ cintento.
Addasaṁ khvāhaṁ, bhante, sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre caturaṅginiṁ senaṁ bhisamuḷālaṁ pavisantaṁ.
Evaṁ khvāhaṁ, bhante, ummatto evaṁ viceto.
Idañca loke natthi yaṁ mayā diṭṭhan’ti.
‘Taggha tvaṁ, ambho purisa, ummatto taggha viceto.
Idañca loke natthi yaṁ tayā diṭṭhan’ti.
Taṁ kho pana, bhikkhave, so puriso bhūtaṁyeva addasa, no abhūtaṁ.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu.
Parājitā ca kho, bhikkhave, asurā bhītā bhisamuḷālena asurapuraṁ pavisiṁsu devānaṁyeva mohayamānā.
Tasmātiha, bhikkhave, mā lokacintaṁ cintetha:
‘sassato loko’ti vā ‘asassato loko’ti vā, ‘antavā loko’ti vā ‘anantavā loko’ti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Taṁ kissa hetu?
Nesā, bhikkhave, cintā atthasaṁhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Cintentā kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti cinteyyātha …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti cinteyyātha.
Taṁ kissa hetu?
Esā, bhikkhave, cintā atthasaṁhitā esā ādibrahmacariyakā esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary. There the Blessed One addressed the bhikkhus thus:
SC 2“Bhikkhus, once in the past a certain man set out from Rajagaha and went to the Sumagadha Lotus Pond, thinking: ‘I will reflect about the world.’ sn.v.447 He then sat down on the bank of the Sumagadha Lotus Pond reflecting about the world. Then, bhikkhus, the man saw a four-division army entering a lotus stalk on the bank of the pond. Having seen this, he thought: ‘I must be mad! I must be insane! I’ve seen something that doesn’t exist in the world.’ The man returned to the city and informed a great crowd of people: ‘I must be mad, sirs! I must be insane! I’ve seen something that doesn’t exist in the world.’
SC 3“They said to him: ‘But how is it, good man, that you are mad? How are you insane? And what have you seen that doesn’t exist in the world?’
SC 4“‘Here, sirs, I left Rajagaha and approached the Sumagadha Lotus Pond … as above … I saw a four-division army entering a lotus stalk on the bank of the pond. That’s why I’m mad, that’s why I’m insane, and that’s what I’ve seen that doesn’t exist in the world.’
SC 5“‘Surely you’re mad, good man! Surely you’re insane! And what you have seen doesn’t exist in the world.’
SC 6“Nevertheless, bhikkhus, what that man saw was actually real, not unreal. Once in the past the devas and the asuras were arrayed for battle. In that battle the devas won and the asuras were defeated. In their defeat, sn.v.448 the asuras were frightened and entered the asura city through the lotus stalk, to the bewilderment of the devas.
SC 7“Therefore, bhikkhus, do not reflect about the world, thinking: ‘The world is eternal’ or ‘The world is not eternal’; or ‘The world is finite’ or ‘The world is infinite’; or ‘The soul and the body are the same’ or ‘The soul is one thing, the body is another’; or ‘The Tathagata exists after death,’ or ‘The Tathagata does not exist after death,’ or ‘The Tathagata both exists and does not exist after death,’ or ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’ For what reason? Because, bhikkhus, this reflection is unbeneficial, irrelevant to the fundamentals of the holy life, and does not lead to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
SC 8“When you reflect, bhikkhus, you should reflect: ‘This is suffering’; you should reflect: ‘This is the origin of suffering’; you should reflect: ‘This is the cessation of suffering’; you should reflect: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’ For what reason? Because, bhikkhus, this reflection is beneficial, relevant to the fundamentals of the holy life, and leads to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
SC 9“Therefore, bhikkhus, an exertion should be made to understand: ‘This is suffering.’… An exertion should be made to understand: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’”
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: “Ta sẽ suy tư về thế giới”, và người ấy đi đến hồ sen sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgadhà và suy tư về thế giới.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, người ấy trên bờ hồ sumàgadhà thấy một đoàn quân với bốn loại binh chủng (voi, ngựa, xe, bộ binh) đi vào trong một củ sen; thấy vậy, người ấy nghĩ: “Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời”.
Vi-n 4 Rồi người ấy, này Tỷ-kheo, đi vào trong thành và nói với một quần chúng lớn:
“—Này Quí vị, có lẽ ta phát cuồng; này Quí vị, có lẽ ta điên loạn. Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!”
“—Như thế nào, này Bạn, Bạn phát cuồng? Như thế nào, Bạn điên loạn? Bạn đã thấy gì không thể có ở đời?”
Vi-n 5 “—Thưa Quí vị, tôi đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: ‘Tôi sẽ suy tư về thế giới’. Tôi đi đến hồ sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ sumàgudhà, suy tư về thế giới. Thưa Quí vị, tôi thấy trên bờ hồ sumàgudhà một đoàn quân với bốn loại binh chủng đi vào trong một củ sen. Thấy vậy, thưa Quí vị, tôi nghĩ: ‘Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời!’”
“—Thật vậy, này Bạn, Bạn đã phát cuồng. Thật vậy, Bạn bị điên loạn, Bạn đã thấy một điều không thể có ở đời!”
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, điều mà người ấy đã thấy là có thật, không phải không thật. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và loài Asura (A-tu-la) giàn trận để khai chiến. Và này các Tỷ-kheo, trong trận chiến ấy, chư Thiên thắng trận, các Asura bại trận. Các Asura bại trận, này các Tỷ-kheo, hoảng hốt đi vào thành Asura ngang qua củ sen vì quá sợ hãi chư Thiên.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư về thế giới: “Thế giới là thường còn”, hay: “Thế giới là vô thường”, hay: “Thế giới là hữu biên”, hay: “Thế giới là vô biên”, hay: “Mạng sống và thân thể là một”, hay: “Mạng sống và thân thể là khác”, hay: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Vì sao?
Vi-n 8 Các điều suy tư ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 9 Nếu có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: “Ðây là Khổ” … “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?
Vi-n 10 Các suy tư như vậy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, các suy tư ấy làm căn bản cho Phạm hạnh, các suy tư ấy đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 11 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, aññataro puriso rājagahā nikkhamitvā ‘lokacintaṁ cintessāmī’ti yena sumāgadhā pokkharaṇī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre nisīdi lokacintaṁ cintento.
Addasā kho, bhikkhave, so puriso sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre caturaṅginiṁ senaṁ bhisamuḷālaṁ pavisantaṁ.
Disvānassa etadahosi:
‘ummattosmi nāmāhaṁ, vicetosmi nāmāhaṁ.
Yaṁ loke natthi taṁ mayā diṭṭhan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso nagaraṁ pavisitvā mahājanakāyassa ārocesi:
‘ummattosmi nāmāhaṁ, bhante, vicetosmi nāmāhaṁ, bhante.
Yaṁ loke natthi taṁ mayā diṭṭhan’ti.
‘Kathaṁ pana tvaṁ, ambho purisa, ummatto kathaṁ viceto?
Kiñca loke natthi yaṁ tayā diṭṭhan’ti?
‘Idhāhaṁ, bhante, rājagahā nikkhamitvā “lokacintaṁ cintessāmī”ti yena sumāgadhā pokkharaṇī tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre nisīdiṁ lokacintaṁ cintento.
Addasaṁ khvāhaṁ, bhante, sumāgadhāya pokkharaṇiyā tīre caturaṅginiṁ senaṁ bhisamuḷālaṁ pavisantaṁ.
Evaṁ khvāhaṁ, bhante, ummatto evaṁ viceto.
Idañca loke natthi yaṁ mayā diṭṭhan’ti.
‘Taggha tvaṁ, ambho purisa, ummatto taggha viceto.
Idañca loke natthi yaṁ tayā diṭṭhan’ti.
Taṁ kho pana, bhikkhave, so puriso bhūtaṁyeva addasa, no abhūtaṁ.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu.
Parājitā ca kho, bhikkhave, asurā bhītā bhisamuḷālena asurapuraṁ pavisiṁsu devānaṁyeva mohayamānā.
Tasmātiha, bhikkhave, mā lokacintaṁ cintetha:
‘sassato loko’ti vā ‘asassato loko’ti vā, ‘antavā loko’ti vā ‘anantavā loko’ti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Taṁ kissa hetu?
Nesā, bhikkhave, cintā atthasaṁhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Cintentā kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti cinteyyātha …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti cinteyyātha.
Taṁ kissa hetu?
Esā, bhikkhave, cintā atthasaṁhitā esā ādibrahmacariyakā esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Paṭhamaṁ.