Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 3 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay của Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 4 Thế Tôn thuyết giảng như vậy … bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Những ai không rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Không rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Không biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh Khổ.
Những vị ấy không có
Tâm và tuệ giải thoát,
Họ không thể chấm dứt,
Phải đi đến sanh già.
Những vị nào rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Và rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Rõ biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh khổ.
Tâm giải thoát thành tựu,
Và các tuệ giải thoát,
Họ có thể chấm dứt,
Không đi đến sanh già.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ nappajānanti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ nappajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ nappajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ nappajānanti,
na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānanti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānanti,
te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Ye dukkhaṁ nappajānanti,
atho dukkhassa sambhavaṁ;
Yattha ca sabbaso dukkhaṁ,
asesaṁ uparujjhati.
Tañca maggaṁ na jānanti,
Dukkhūpasamagāminaṁ;
Cetovimuttihīnā te,
Atho paññāvimuttiyā;
Abhabbā te antakiriyāya,
Te ve jātijarūpagā.
Ye ca dukkhaṁ pajānanti,
atho dukkhassa sambhavaṁ;
Yattha ca sabbaso dukkhaṁ,
asesaṁ uparujjhati.
Tañca maggaṁ pajānanti,
dukkhūpasamagāminaṁ;
Cetovimuttisampannā,
atho paññāvimuttiyā;
Bhabbā te antakiriyāya,
na te jātijarūpagā”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, those ascetics or brahmins who do not understand as it really is: ‘This is suffering’; who do not understand as it really is: ‘This is the origin of suffering’; who do not understand as it really is: ‘This is the cessation of suffering’; who do not understand as it really is: ‘This is the way leading to the cessation of suffering’: these I do not consider to be ascetics among ascetics or brahmins among brahmins, and these venerable ones do not, by realizing it for themselves with direct knowledge, enter and dwell, in this very life, in the goal of asceticism or the goal of brahminhood.
SC 2“But, bhikkhus, those ascetics or brahmins who understand these things: these I consider to be ascetics among ascetics and brahmins among brahmins, sn.v.433 and these venerable ones, by realizing it for themselves with direct knowledge, enter and dwell, in this very life, in the goal of asceticism and the goal of brahminhood.”
SC 3This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 4“Those who do not understand suffering,
Who do not know suffering’s origin,
Nor where suffering completely stops,
Where it ceases without remainder;
Who do not know that path
Which leads to suffering’s appeasement:
They are devoid of mind’s liberation
And also of liberation by wisdom;
Incapable of making an end,
They fare on to birth and aging.
“But those who understand suffering,
Who know too suffering’s origin,
And where suffering completely stops,
Where it ceases without remainder;
Who understand that path
Which leads to suffering’s appeasement:
They are endowed with mind’s liberation
And also with liberation by wisdom;
Being capable of making an end,
They fare no more in birth and aging.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, không như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, không như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 3 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay của Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 4 Thế Tôn thuyết giảng như vậy … bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Những ai không rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Không rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Không biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh Khổ.
Những vị ấy không có
Tâm và tuệ giải thoát,
Họ không thể chấm dứt,
Phải đi đến sanh già.
Những vị nào rõ biết,
Khổ và Khổ tập khởi,
Và rõ như thế nào,
Khổ đoạn tận không dư,
Rõ biết Con Ðường ấy
Ðưa đến chỉ tịnh khổ.
Tâm giải thoát thành tựu,
Và các tuệ giải thoát,
Họ có thể chấm dứt,
Không đi đến sanh già.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ nappajānanti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ nappajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ nappajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ nappajānanti,
na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānanti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānanti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānanti,
te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Ye dukkhaṁ nappajānanti,
atho dukkhassa sambhavaṁ;
Yattha ca sabbaso dukkhaṁ,
asesaṁ uparujjhati.
Tañca maggaṁ na jānanti,
Dukkhūpasamagāminaṁ;
Cetovimuttihīnā te,
Atho paññāvimuttiyā;
Abhabbā te antakiriyāya,
Te ve jātijarūpagā.
Ye ca dukkhaṁ pajānanti,
atho dukkhassa sambhavaṁ;
Yattha ca sabbaso dukkhaṁ,
asesaṁ uparujjhati.
Tañca maggaṁ pajānanti,
dukkhūpasamagāminaṁ;
Cetovimuttisampannā,
atho paññāvimuttiyā;
Bhabbā te antakiriyāya,
na te jātijarūpagā”ti.
Dutiyaṁ.