Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?
Vi-n 3 Những câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 4 Có nói chuyện, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: “Ðây là Khổ” … hãy nói chuyện: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt” … Vì sao?
Vi-n 5 Các câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
“Mā, bhikkhave, anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ katheyyātha, seyyathidaṁ—
rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ, bhayakathaṁ yuddhakathaṁ, annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ, ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ, pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ, lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Taṁ kissa hetu?
Nesā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha.
Taṁ kissa hetu?
Esā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā, esā ādibrahmacariyakā, esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Dasamaṁ.
Samādhivaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Samādhi paṭisallānā,
kulaputtā apare duve;
Samaṇabrāhmaṇā vitakkaṁ,
cintā viggāhikā kathāti.
SC 1“Bhikkhus, do not engage in the various kinds of pointless talk, that is, talk about kings, thieves, and ministers of state; talk about armies, dangers, and wars; talk about food, drink, garments, and beds; talk about garlands and scents; talk about relations, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and talk about heroes; sn.v.420 street talk and talk by the well; talk about those departed in days gone by; rambling chitchat; speculation about the world and about the sea; talk about becoming this or that. For what reason? Because, bhikkhus, this talk is unbeneficial, irrelevant to the fundamentals of the holy life, and does not lead to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
SC 2“When you talk, bhikkhus, you should talk about: ‘This is suffering’; you should talk about: ‘This is the origin of suffering’; you should talk about: ‘This is the cessation of suffering’; you should talk about: ‘This is the way leading to the cessation of suffering. ’ For what reason? Because, bhikkhus, this talk is beneficial, relevant to the fundamentals of the holy life, and leads to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
SC 3“Therefore, bhikkhus, an exertion should be made to understand: ‘This is suffering.’… An exertion should be made to understand: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?
Vi-n 3 Những câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 4 Có nói chuyện, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: “Ðây là Khổ” … hãy nói chuyện: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt” … Vì sao?
Vi-n 5 Các câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
“Mā, bhikkhave, anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ katheyyātha, seyyathidaṁ—
rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ, bhayakathaṁ yuddhakathaṁ, annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ, ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ, pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ, lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Taṁ kissa hetu?
Nesā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha.
Taṁ kissa hetu?
Esā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā, esā ādibrahmacariyakā, esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Dasamaṁ.
Samādhivaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Samādhi paṭisallānā,
kulaputtā apare duve;
Samaṇabrāhmaṇā vitakkaṁ,
cintā viggāhikā kathāti.