Vi-n 1 Nhơn duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Tại đấy, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 3 Tôn giả Sāriputta nói:
—Ở đây, này các Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên: “Có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?”.
Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ: “Không có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não”.
Vi-n 4 Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta:
—Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Sāriputta, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi Hiền giả sầu, bi, khổ, ưu, não?
Vi-n 5 —Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Ānanda, khi bị biến hoại, trạng thái đổi khác, không có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não. Nhưng ta có thể suy nghĩ: “Mong rằng bậc Ðại Thế Lực, bậc Ðạo Sư có đại thần thông, có đại uy lực chớ có biến diệt! Nếu bậc Thế Tôn ấy an trú lâu dài, thời như vậy thật là hạnh phúc cho quần sanh, thật là an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”.
Vi-n 6 —Như vậy đối với Tôn giả Sāriputta, ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên được khéo đoạn trừ đã lâu ngày.
Vi-n 7 Do vậy, đối với Tôn giả Sāriputta, dầu cho bậc Ðạo Sư có biến hoại, trạng huống có đổi khác, cũng không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Idha mayhaṁ, āvuso, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘atthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’ti?
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘natthi kho taṁ kiñci lokasmiṁ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“satthupi kho te, āvuso sāriputta, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Satthupi kho me, āvuso, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, api ca me evamassa:
‘mahesakkho vata bho satthā antarahito mahiddhiko mahānubhāvo.
Sace hi bhagavā ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā.
Tasmā āyasmato sāriputtassa satthupi vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1At Savatthi. There the Venerable Sāriputta addressed the bhikkhus thus: “Friends, bhikkhus!”
SC 2“Friend!” those bhikkhus replied. The Venerable Sāriputta said this:
SC 3“Here, friends, when I was alone in seclusion, a reflection arose in my mind thus: ‘Is there anything in the world through the change and alteration of which sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair might arise in me?’ Then it occurred to me: ‘There is nothing in the world through the change and alteration of which sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair might arise in me.’”
SC 4When this was said, the Venerable Ānanda said to the Venerable Sāriputta: “Friend Sāriputta, even if the Teacher himself were to undergo change and alteration, wouldn’t sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair arise in you?”
SC 5“Friend, even if the Teacher himself were to undergo change and alteration, still sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair would not arise in me. However, it would occur to me: ‘The Teacher, so influential, so powerful and mighty, has passed away. If the Blessed One had lived for a long time, that would have been for the welfare and happiness of the multitude, out of compassion for the world, for the good, welfare, and happiness of devas and humans.’” sn.ii.275
SC 6“It must be because I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit have been thoroughly uprooted in the Venerable Sāriputta for a long time that even if the Teacher himself were to undergo change and alteration, still sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair would not arise in him.”
Vi-n 1 Nhơn duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Tại đấy, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta.
Vi-n 3 Tôn giả Sāriputta nói:
—Ở đây, này các Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên: “Có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?”.
Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ: “Không có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não”.
Vi-n 4 Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Sāriputta:
—Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Sāriputta, khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi Hiền giả sầu, bi, khổ, ưu, não?
Vi-n 5 —Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Ānanda, khi bị biến hoại, trạng thái đổi khác, không có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não. Nhưng ta có thể suy nghĩ: “Mong rằng bậc Ðại Thế Lực, bậc Ðạo Sư có đại thần thông, có đại uy lực chớ có biến diệt! Nếu bậc Thế Tôn ấy an trú lâu dài, thời như vậy thật là hạnh phúc cho quần sanh, thật là an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”.
Vi-n 6 —Như vậy đối với Tôn giả Sāriputta, ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, tùy miên được khéo đoạn trừ đã lâu ngày.
Vi-n 7 Do vậy, đối với Tôn giả Sāriputta, dầu cho bậc Ðạo Sư có biến hoại, trạng huống có đổi khác, cũng không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Idha mayhaṁ, āvuso, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘atthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’ti?
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘natthi kho taṁ kiñci lokasmiṁ yassa me vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā’”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“satthupi kho te, āvuso sāriputta, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Satthupi kho me, āvuso, vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, api ca me evamassa:
‘mahesakkho vata bho satthā antarahito mahiddhiko mahānubhāvo.
Sace hi bhagavā ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā.
Tasmā āyasmato sāriputtassa satthupi vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
Dutiyaṁ.