Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Linh Thứu.
Vi-n 2 Rồi hoàng tử Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hoàng tử Abhaya bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, Puurana Kassapa nói như sau:
: “Không có nhân, không có duyên để không biết, không thấy. Không biết, không thấy không có nhân, không có duyên. Không có nhân, không có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy không có nhân, không có duyên”. Ở đây, Thế Tôn đã nói như thế nào?
Vi-n 4 —Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không biết, để không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên. Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy có nhân, có duyên.
I
Vi-n 5 —Do nhân nào, do duyên nào, bạch Thế Tôn, để không biết, để không thấy? Như thế nào không biết, không thấy có nhân, có duyên?
Vi-n 6 —Này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối và như thật không biết, không thấy sự xuất ly khỏi dục và tham đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, để không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.
Vi-n 7 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối …
Vi-n 8 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối …
Vi-n 9 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối …
Vi-n 10 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và thật sự không biết, không thấy sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.
Vi-n 11 —Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
—Này Hoàng tử, được gọi là các triền cái.
—Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thiện Thệ. Chỉ bị chinh phục bởi một triền cái mà thôi, bạch Thế Tôn, cũng không có thể biết như thật, thấy như thật, còn nói gì bị cả năm triền cái chinh phục.
II
Vi-n 12 —Nhưng, bạch Thế Tôn, do nhân nào, do duyên nào để biết, để thấy? Như thế nào biết và thấy có nhân, có duyên?
Vi-n 13 —Ở đây, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập niệm giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để biết, để thấy. Như vậy, biết và thấy có nhân, có duyên.
Vi-n 14-18. Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo …
Vi-n 19 Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập xả giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên để biết, để thấy. Như vậy, thấy và biết có nhân, có duyên.
Vi-n 20 —Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
—Này Hoàng tử, được gọi là các giác chi.
—Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, chỉ được đầy đủ với một giác chi mà thôi đã có thể như thật thấy và biết, còn nói gì đầy đủ cả bảy giác chi.
Bạch Thế Tôn, sự mệt nhọc về thân và mệt nhọc về tâm khi con leo lên núi Linh Thứu đã đươc khinh an, nhẹ nhàng và pháp đã được con hoàn toàn chứng đắc.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho abhayo rājakumāro yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca:
“pūraṇo, bhante, kassapo evamāha:
‘natthi hetu, natthi paccayo aññāṇāya adassanāya.
Ahetu, appaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hoti.
Natthi hetu, natthi paccayo ñāṇāya dassanāya.
Ahetu, appaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Atthi, rājakumāra, hetu, atthi paccayo aññāṇāya adassanāya.
Sahetu, sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hoti.
Atthi, rājakumāra, hetu, atthi paccayo ñāṇāya dassanāya.
Sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī”ti.
“Katamo pana, bhante, hetu, katamo paccayo aññāṇāya adassanāya?
Kathaṁ sahetu, sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hotī”ti?
“Yasmiṁ kho, rājakumāra, samaye kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ na jānāti na passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo aññāṇāya adassanāya.
Evampi sahetu sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hoti.
Puna caparaṁ, rājakumāra, yasmiṁ samaye byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati byāpādaparetena …pe…
thinamiddhapariyuṭṭhitena …pe…
uddhaccakukkuccapariyuṭṭhitena …pe…
vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati vicikicchāparetena, uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ na jānāti na passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo aññāṇāya adassanāya.
Evampi sahetu sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hotī”ti.
“Ko nāmāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Nīvaraṇā nāmete, rājakumārā”ti.
“Taggha, bhagavā, nīvaraṇā;
taggha, sugata, nīvaraṇā.
Ekamekenapi kho, bhante, nīvaraṇena abhibhūto yathābhūtaṁ na jāneyya na passeyya, ko pana vādo pañcahi nīvaraṇehi?
Katamo pana, bhante, hetu, katamo paccayo ñāṇāya dassanāya?
Kathaṁ sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī”ti?
“Idha, rājakumāra, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
So satisambojjhaṅgaṁ bhāvitena cittena yathābhūtaṁ jānāti passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo ñāṇāya dassanāya.
Evampi sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hoti.
Puna caparaṁ, rājakumāra, bhikkhu …pe…
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
So upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāvitena cittena yathābhūtaṁ jānāti passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo ñāṇāya dassanāya.
Evaṁ sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī”ti.
“Ko nāmāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Bojjhaṅgā nāmete, rājakumārā”ti.
“Taggha, bhagavā, bojjhaṅgā;
taggha, sugata, bojjhaṅgā.
Ekamekenapi kho, bhante, bojjhaṅgena samannāgato yathābhūtaṁ jāneyya passeyya, ko pana vādo sattahi bojjhaṅgehi?
Yopi me, bhante, gijjhakūṭaṁ pabbataṁ ārohantassa kāyakilamatho cittakilamatho, sopi me paṭippassaddho, dhammo ca me abhisamito”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Sākacchavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Āhārā pariyāyamaggi,
mettaṁ saṅgāravena ca;
Abhayo pucchito pañhaṁ,
gijjhakūṭamhi pabbateti.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Rajagaha on Mount Vulture Peak. Then Prince Abhaya approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 2“Venerable sir, Pūraṇa Kassapa says: ‘There is no cause or condition for lack of knowledge and vision; lack of knowledge and vision is without cause or condition. There is no cause or condition for knowledge and vision; knowledge and vision are without cause or condition.’ What does the Blessed One say about this?”
SC 3“There is, prince, a cause and condition for lack of knowledge and vision; lack of knowledge and vision is with cause and condition. sn.v.127 There is a cause and condition for knowledge and vision; knowledge and vision are with cause and condition.”
i. The cause for lack of knowledge and vision
SC 4“But, venerable sir, what is the cause and condition for lack of knowledge and vision? How is it that lack of knowledge and vision is with cause and condition?”
SC 5“On an occasion, prince, when one dwells with a mind obsessed by sensual lust, overwhelmed by sensual lust, and one neither knows nor sees as it really is the escape from arisen sensual lust: this is a cause and condition for lack of knowledge and vision; it is in this way that lack of knowledge and vision is with cause and condition.
SC 6“Again, prince, on an occasion when one dwells with a mind obsessed by ill will … obsessed by sloth and torpor … obsessed by restlessness and remorse … obsessed by doubt, overwhelmed by doubt, and one neither knows nor sees as it really is the escape from arisen doubt: this too is a cause and condition for lack of knowledge and vision; it is in this way too that lack of knowledge and vision is with cause and condition.”
SC 7“What is this Dhamma exposition called, venerable sir?”
“These are called the hindrances, prince.”
SC 8“Surely they are hindrances, Blessed One! Surely they are hindrances, Fortunate One! One overcome by even a single hindrance would not know and see things as they really are, not to speak of one overcome by the five hindrances.
ii. The cause of knowledge and vision
SC 9“But, venerable sir, what is the cause and condition for knowledge and vision? How is it that knowledge and vision are with cause and condition?” sn.v.128
SC 10“Here, prince, a bhikkhu develops the enlightenment factor of mindfulness, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release. With a mind that has developed the enlightenment factor of mindfulness he knows and sees things as they really are. This is a cause for knowledge and vision; it is in this way that knowledge and vision are with cause and condition….
SC 11“Again, prince, a bhikkhu develops the enlightenment factor of equanimity, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release. With a mind that has developed the enlightenment factor of equanimity he knows and sees things as they really are. This too is a cause for knowledge and vision; it is in this way that knowledge and vision are with cause and condition.”
SC 12“What is this Dhamma exposition called, venerable sir?”
SC 13“These are called the factors of enlightenment, prince.”
SC 14“Surely they are factors of enlightenment, Blessed One! Surely they are factors of enlightenment, Fortunate One! One who possesses even a single factor of enlightenment would know and see things as they really are, not to speak of one who possesses the seven factors of enlightenment. The bodily fatigue and the mental fatigue that I experienced from climbing Mount Vulture Peak have subsided. I have made the breakthrough to the Dhamma.” sn.v.129
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Linh Thứu.
Vi-n 2 Rồi hoàng tử Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hoàng tử Abhaya bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, Puurana Kassapa nói như sau:
: “Không có nhân, không có duyên để không biết, không thấy. Không biết, không thấy không có nhân, không có duyên. Không có nhân, không có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy không có nhân, không có duyên”. Ở đây, Thế Tôn đã nói như thế nào?
Vi-n 4 —Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không biết, để không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên. Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy có nhân, có duyên.
I
Vi-n 5 —Do nhân nào, do duyên nào, bạch Thế Tôn, để không biết, để không thấy? Như thế nào không biết, không thấy có nhân, có duyên?
Vi-n 6 —Này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối và như thật không biết, không thấy sự xuất ly khỏi dục và tham đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, để không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.
Vi-n 7 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối …
Vi-n 8 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối …
Vi-n 9 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối …
Vi-n 10 Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và thật sự không biết, không thấy sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.
Vi-n 11 —Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
—Này Hoàng tử, được gọi là các triền cái.
—Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thiện Thệ. Chỉ bị chinh phục bởi một triền cái mà thôi, bạch Thế Tôn, cũng không có thể biết như thật, thấy như thật, còn nói gì bị cả năm triền cái chinh phục.
II
Vi-n 12 —Nhưng, bạch Thế Tôn, do nhân nào, do duyên nào để biết, để thấy? Như thế nào biết và thấy có nhân, có duyên?
Vi-n 13 —Ở đây, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập niệm giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để biết, để thấy. Như vậy, biết và thấy có nhân, có duyên.
Vi-n 14-18. Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo …
Vi-n 19 Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập xả giác chi nên như thật biết và thấy. Ðây là nhân, đây là duyên để biết, để thấy. Như vậy, thấy và biết có nhân, có duyên.
Vi-n 20 —Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?
—Này Hoàng tử, được gọi là các giác chi.
—Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, chỉ được đầy đủ với một giác chi mà thôi đã có thể như thật thấy và biết, còn nói gì đầy đủ cả bảy giác chi.
Bạch Thế Tôn, sự mệt nhọc về thân và mệt nhọc về tâm khi con leo lên núi Linh Thứu đã đươc khinh an, nhẹ nhàng và pháp đã được con hoàn toàn chứng đắc.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho abhayo rājakumāro yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca:
“pūraṇo, bhante, kassapo evamāha:
‘natthi hetu, natthi paccayo aññāṇāya adassanāya.
Ahetu, appaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hoti.
Natthi hetu, natthi paccayo ñāṇāya dassanāya.
Ahetu, appaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Atthi, rājakumāra, hetu, atthi paccayo aññāṇāya adassanāya.
Sahetu, sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hoti.
Atthi, rājakumāra, hetu, atthi paccayo ñāṇāya dassanāya.
Sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī”ti.
“Katamo pana, bhante, hetu, katamo paccayo aññāṇāya adassanāya?
Kathaṁ sahetu, sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hotī”ti?
“Yasmiṁ kho, rājakumāra, samaye kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ na jānāti na passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo aññāṇāya adassanāya.
Evampi sahetu sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hoti.
Puna caparaṁ, rājakumāra, yasmiṁ samaye byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati byāpādaparetena …pe…
thinamiddhapariyuṭṭhitena …pe…
uddhaccakukkuccapariyuṭṭhitena …pe…
vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati vicikicchāparetena, uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ na jānāti na passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo aññāṇāya adassanāya.
Evampi sahetu sappaccayo aññāṇaṁ adassanaṁ hotī”ti.
“Ko nāmāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Nīvaraṇā nāmete, rājakumārā”ti.
“Taggha, bhagavā, nīvaraṇā;
taggha, sugata, nīvaraṇā.
Ekamekenapi kho, bhante, nīvaraṇena abhibhūto yathābhūtaṁ na jāneyya na passeyya, ko pana vādo pañcahi nīvaraṇehi?
Katamo pana, bhante, hetu, katamo paccayo ñāṇāya dassanāya?
Kathaṁ sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī”ti?
“Idha, rājakumāra, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
So satisambojjhaṅgaṁ bhāvitena cittena yathābhūtaṁ jānāti passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo ñāṇāya dassanāya.
Evampi sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hoti.
Puna caparaṁ, rājakumāra, bhikkhu …pe…
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
So upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāvitena cittena yathābhūtaṁ jānāti passati—
ayampi kho, rājakumāra, hetu, ayaṁ paccayo ñāṇāya dassanāya.
Evaṁ sahetu, sappaccayo ñāṇaṁ dassanaṁ hotī”ti.
“Ko nāmāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Bojjhaṅgā nāmete, rājakumārā”ti.
“Taggha, bhagavā, bojjhaṅgā;
taggha, sugata, bojjhaṅgā.
Ekamekenapi kho, bhante, bojjhaṅgena samannāgato yathābhūtaṁ jāneyya passeyya, ko pana vādo sattahi bojjhaṅgehi?
Yopi me, bhante, gijjhakūṭaṁ pabbataṁ ārohantassa kāyakilamatho cittakilamatho, sopi me paṭippassaddho, dhammo ca me abhisamito”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Sākacchavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Āhārā pariyāyamaggi,
mettaṁ saṅgāravena ca;
Abhayo pucchito pañhaṁ,
gijjhakūṭamhi pabbateti.