Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Veludvàra.
Vi-n 2 Các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, đã xuất gia từ gia tộc họ Thích, đang đi du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đã đến Veludvàra”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Sau khi chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn, đầy đủ, trong sạch. Tốt lành thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”
Vi-n 3 Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi một bên, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có ước vọng như thế này, có ước muốn như thế này, có chú tâm (adhippàya) như thế này: “Mong rằng chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con! Mong chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kāsi! Mong rằng chúng tôi được trang sức bằng vòng hoa và phấn sáp! Mong rằng chúng tôi được sử dụng vàng và bạc! Sau khi thân hoại mạng chung, mong rằng chúng tôi được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này!” Mong rằng Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng tôi, những người có ước vọng như vậy, có ước muốn như vậy, có chú tâm như vậy. Hãy thuyết pháp như thế nào để chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con, để chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kāsi … để chúng tôi, khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Vi-n 5 —Vậy này các Gia chủ, Ta sẽ thuyết cho các Ông một pháp môn đưa đến lợi ích (tự lợi cho tự ngã) (attuupanàyikam). Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các Bà-la-môn ở Veludvàra vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Gia chủ, thế nào là pháp môn đưa đến lợi ích cho tự ngã?
Vi-n 6 Ở đây, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh (kotiparisuddham).
Vi-n 7 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 8 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 9 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu có ai làm tổn hại lợi ích ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích người khác với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 10 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói lời hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 11 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 12 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, tán thán từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 13 Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc A-la-hán … Phật, Thế Tôn”.
Vi-n 14 … đối với Pháp …
Vi-n 15 … đối với chúng Tăng …
Vi-n 16 Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.
Vi-n 17 Này các Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử thành tựu bảy pháp này và bốn lời nguyện xứ này, nếu vị ấy muốn, vị ấy có thể tuyên bố về mình: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không có bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.
Vi-n 18 Ðược nói vậy, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena veḷudvāraṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Assosuṁ kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ veḷudvāraṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“mayaṁ, bho gotama, evaṅkāmā evaṁchandā evaṁadhippāyā—
puttasambādhasayanaṁ ajjhāvaseyyāma, kāsikacandanaṁ paccanubhaveyyāma, mālāgandhavilepanaṁ dhāreyyāma, jātarūparajataṁ sādiyeyyāma, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyāma.
Tesaṁ no bhavaṁ gotamo amhākaṁ evaṅkāmānaṁ evaṁchandānaṁ evaṁadhippāyānaṁ tathā dhammaṁ desetu yathā mayaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvaseyyāma …pe… sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyāmā”ti.
“Attupanāyikaṁ vo, gahapatayo, dhammapariyāyaṁ desessāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamo ca, gahapatayo, attupanāyiko dhammapariyāyo?
Idha, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ahaṁ khosmi jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Yo kho maṁ jīvitukāmaṁ amaritukāmaṁ sukhakāmaṁ dukkhappaṭikūlaṁ jīvitā voropeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ jīvitukāmaṁ amaritukāmaṁ sukhakāmaṁ dukkhappaṭikūlaṁ jīvitā voropeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca pāṇātipātā paṭivirato hoti, parañca pāṇātipātā veramaṇiyā samādapeti, pāṇātipātā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho me adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana parassa adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca adinnādānā paṭivirato hoti, parañca adinnādānā veramaṇiyā samādapeti, adinnādānā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho me dāresu cārittaṁ āpajjeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana parassa dāresu cārittaṁ āpajjeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, parañca kāmesumicchācārā veramaṇiyā samādapeti, kāmesumicchācārā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho me musāvādena atthaṁ bhañjeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana parassa musāvādena atthaṁ bhañjeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca musāvādā paṭivirato hoti, parañca musāvādā veramaṇiyā samādapeti, musāvādā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
“yo kho maṁ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ …pe…
evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
“yo kho maṁ pharusāya vācāya samudācareyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ pharusāya vācāya samudācareyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo …pe…
evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho maṁ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca samphappalāpā paṭivirato hoti, parañca samphappalāpā veramaṇiyā samādapeti, samphappalāpā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
So buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti;
dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Yato kho, gahapatayo, ariyasāvako imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti imehi catūhi ākaṅkhiyehi ṭhānehi, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Evaṁ vutte, veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
Sattamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at a village of the Kosalan brahmins named Bamboo Gate.
The brahmins and householders of Bamboo Gate heard:
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Bamboo Gate, together with a large Saṅgha of mendicants.
He has this good reputation:
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others.
He proclaims a teaching that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
It’s good to see such perfected ones.”
Then the brahmins and householders of Bamboo Gate went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their joined palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent. Seated to one side they said to the Buddha:
“Worthy Gotama, these are our wishes, desires, and hopes.
We wish to live at home with our children; to use sandalwood imported from Kāsi; to wear garlands, fragrance, and makeup; and to accept gold and currency. And when our body breaks up, after death, we wish to be reborn in a good place, a heavenly realm.
Given that we have such wishes, may the Buddha teach us the Dhamma so that we may achieve them.”
“Householders, I will teach you an explanation of the Dhamma that applies to oneself.
Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” they replied.
The Buddha said this:
“And what is the explanation of the Dhamma that applies to oneself?
It’s when a noble disciple reflects:
‘I want to live and don’t want to die; I want to be happy and recoil from pain.
Since this is so, if someone were to take my life, I wouldn’t like that.
But others also want to live and don’t want to die; they want to be happy and recoil from pain. So if I were to take the life of someone else, they wouldn’t like that either.
The thing that is disliked by me is also disliked by others.
Since I dislike this thing, how can I inflict it on someone else?’
Reflecting in this way, they give up killing living creatures themselves. And they encourage others to give up killing living creatures, praising the giving up of killing living creatures.
So their bodily behavior is purified in three points.
Furthermore, a noble disciple reflects:
‘If someone were to steal from me, I wouldn’t like that.
But if I were to steal from someone else, they wouldn’t like that either.
The thing that is disliked by me is also disliked by others.
Since I dislike this thing, how can I inflict it on someone else?’
Reflecting in this way, they give up stealing themselves. And they encourage others to give up stealing, praising the giving up of stealing.
So their bodily behavior is purified in three points.
Furthermore, a noble disciple reflects:
‘If someone were to have sexual relations with my wives, I wouldn’t like it.
But if I were to have sexual relations with someone else’s wives, he wouldn’t like that either.
The thing that is disliked by me is also disliked by others.
Since I dislike this thing, how can I inflict it on others?’
Reflecting in this way, they give up sexual misconduct themselves. And they encourage others to give up sexual misconduct, praising the giving up of sexual misconduct.
So their bodily behavior is purified in three points.
Furthermore, a noble disciple reflects:
‘If someone were to distort my meaning by lying, I wouldn’t like it.
But if I were to distort someone else’s meaning by lying, they wouldn’t like it either.
The thing that is disliked by me is also disliked by someone else.
Since I dislike this thing, how can I inflict it on others?’
Reflecting in this way, they give up lying themselves. And they encourage others to give up lying, praising the giving up of lying.
So their verbal behavior is purified in three points.
Furthermore, a noble disciple reflects:
‘If someone were to break me up from my friends by backbiting, I wouldn’t like it.
But if I were to break someone else from their friends by backbiting, they wouldn’t like it either. …’
So their verbal behavior is purified in three points.
Furthermore, a noble disciple reflects:
‘If someone were to attack me with harsh speech, I wouldn’t like it.
But if I were to attack someone else with harsh speech, they wouldn’t like it either. …’
So their verbal behavior is purified in three points.
Furthermore, a noble disciple reflects:
‘If someone were to annoy me by talking silliness and nonsense, I wouldn’t like it.
But if I were to annoy someone else by talking silliness and nonsense, they wouldn’t like it either.’
The thing that is disliked by me is also disliked by another.
Since I dislike this thing, how can I inflict it on another?’
Reflecting in this way, they give up talking nonsense themselves. And they encourage others to give up talking nonsense, praising the giving up of talking nonsense.
So their verbal behavior is purified in three points.
And they have experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
When a noble disciple possesses these seven good qualities and these four desirable states they may, if they wish, declare of themselves:
‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am destined for awakening.’”
When he had spoken, the brahmins and householders of Bamboo Gate said to the Buddha,
“Excellent, worthy Gotama! …
We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Veludvàra.
Vi-n 2 Các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, đã xuất gia từ gia tộc họ Thích, đang đi du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đã đến Veludvàra”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Sau khi chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn, đầy đủ, trong sạch. Tốt lành thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”
Vi-n 3 Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi một bên, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có ước vọng như thế này, có ước muốn như thế này, có chú tâm (adhippàya) như thế này: “Mong rằng chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con! Mong chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kāsi! Mong rằng chúng tôi được trang sức bằng vòng hoa và phấn sáp! Mong rằng chúng tôi được sử dụng vàng và bạc! Sau khi thân hoại mạng chung, mong rằng chúng tôi được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này!” Mong rằng Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng tôi, những người có ước vọng như vậy, có ước muốn như vậy, có chú tâm như vậy. Hãy thuyết pháp như thế nào để chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con, để chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kāsi … để chúng tôi, khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Vi-n 5 —Vậy này các Gia chủ, Ta sẽ thuyết cho các Ông một pháp môn đưa đến lợi ích (tự lợi cho tự ngã) (attuupanàyikam). Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các Bà-la-môn ở Veludvàra vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Gia chủ, thế nào là pháp môn đưa đến lợi ích cho tự ngã?
Vi-n 6 Ở đây, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh (kotiparisuddham).
Vi-n 7 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 8 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 9 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu có ai làm tổn hại lợi ích ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích người khác với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 10 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói lời hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 11 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 12 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, tán thán từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 13 Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc A-la-hán … Phật, Thế Tôn”.
Vi-n 14 … đối với Pháp …
Vi-n 15 … đối với chúng Tăng …
Vi-n 16 Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.
Vi-n 17 Này các Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử thành tựu bảy pháp này và bốn lời nguyện xứ này, nếu vị ấy muốn, vị ấy có thể tuyên bố về mình: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không có bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.
Vi-n 18 Ðược nói vậy, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena veḷudvāraṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Assosuṁ kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ veḷudvāraṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“mayaṁ, bho gotama, evaṅkāmā evaṁchandā evaṁadhippāyā—
puttasambādhasayanaṁ ajjhāvaseyyāma, kāsikacandanaṁ paccanubhaveyyāma, mālāgandhavilepanaṁ dhāreyyāma, jātarūparajataṁ sādiyeyyāma, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyāma.
Tesaṁ no bhavaṁ gotamo amhākaṁ evaṅkāmānaṁ evaṁchandānaṁ evaṁadhippāyānaṁ tathā dhammaṁ desetu yathā mayaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvaseyyāma …pe… sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyāmā”ti.
“Attupanāyikaṁ vo, gahapatayo, dhammapariyāyaṁ desessāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamo ca, gahapatayo, attupanāyiko dhammapariyāyo?
Idha, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ahaṁ khosmi jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo.
Yo kho maṁ jīvitukāmaṁ amaritukāmaṁ sukhakāmaṁ dukkhappaṭikūlaṁ jīvitā voropeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ jīvitukāmaṁ amaritukāmaṁ sukhakāmaṁ dukkhappaṭikūlaṁ jīvitā voropeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca pāṇātipātā paṭivirato hoti, parañca pāṇātipātā veramaṇiyā samādapeti, pāṇātipātā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho me adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana parassa adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca adinnādānā paṭivirato hoti, parañca adinnādānā veramaṇiyā samādapeti, adinnādānā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho me dāresu cārittaṁ āpajjeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana parassa dāresu cārittaṁ āpajjeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, parañca kāmesumicchācārā veramaṇiyā samādapeti, kāmesumicchācārā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho me musāvādena atthaṁ bhañjeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana parassa musāvādena atthaṁ bhañjeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca musāvādā paṭivirato hoti, parañca musāvādā veramaṇiyā samādapeti, musāvādā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
“yo kho maṁ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ …pe…
evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
“yo kho maṁ pharusāya vācāya samudācareyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ pharusāya vācāya samudācareyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo …pe…
evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘yo kho maṁ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ.
Ahañceva kho pana paraṁ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo.
Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti.
So iti paṭisaṅkhāya attanā ca samphappalāpā paṭivirato hoti, parañca samphappalāpā veramaṇiyā samādapeti, samphappalāpā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati.
Evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
So buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti;
dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Yato kho, gahapatayo, ariyasāvako imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti imehi catūhi ākaṅkhiyehi ṭhānehi, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Evaṁ vutte, veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
Sattamaṁ.