Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 … Rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con ngồi yên tĩnh một mình, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du”.
Vi-n 3 —Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, pháp được Ta khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du.
Vi-n 4 Một thời, thưa Ðại vương, Ta ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca) tại một thị trấn của các vị Sakka.
Vi-n 5 Rồi thưa Ðại vương, Tỷ-kheo Ānanda đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Ðại vương, Tỷ-kheo Ānanda bạch với Ta:
“—Bạch Thế Tôn, quá phân nửa đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.”
Vi-n 6 Khi được nói vậy, thưa Ðại vương. Ta nói với Tỷ-kheo Ānanda:
“ —Này Ānanda, không phải vậy. Này Ānanda, không phải vậy. Thật sự, này Ānanda, toàn phần đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du. Từ một Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này Ānanda, chúng ta hy vọng rằng vị ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.
Vi-n 7 Và Ānanda, thế nào là Tỷ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
Vi-n 8 Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly, tu tập chánh tư duy…, tu tập chánh ngữ…, tu tập chánh nghiệp…, tu tập chánh mạng…, tu tập chánh tinh tấn…, tu tập chánh niệm…, tu tập chánh định, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly. Như vậy, này Ānanda, là vị Tỷ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 9 Và chính theo pháp môn này, này Ānanda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.
Vi-n 10 Này Ānanda, chính vì Ta y cứ, làm bạn với thiện, nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị bệnh được giải thoát khỏi bệnh; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ ưu, não. Và chính theo pháp môn này, này Ānanda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.”
Vi-n 11 Do vậy, này Ðại vương, cần phải học như sau: “Tôi sẽ là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du”. Như vậy, này Ðại vương, Ðại vương cần phải học. Này Ðại vương, để Ðại vương có thể trở thành thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, Ðại vương cần phải y cứ, an trú vào một pháp, tức là không phóng dật trong các thiện pháp.
Vi-n 12 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời các nữ cung nhân sẽ suy nghĩ: “Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật.”
Vi-n 13 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các vị Sát-đế-lỵ chư hầu sẽ suy nghĩ: “Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật.”
Vi-n 14 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các dân chúng ở thị trấn và quốc độ sẽ suy nghĩ: “Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật. Vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật.”
Vi-n 15 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời tự ngã được che chở, hộ trì, nội cung được che chở, hộ trì, kho tàng được che chở, hộ trì.
Vi-n 16
Người ước mong tài sản,
Phải liên tục tăng thượng,
Người hiền trí tán thán,
Hạnh lành không phóng dật.
Ðối với những người lành,
Làm các hạnh công đức.
Người hiền không phóng dật,
Ðược cả hai lợi ích,
Lợi ích trong đời này,
Lợi ích cả đời sau.
Kẻ anh hùng được gọi
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy
Hạnh phúc cho chính mình.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo, so ca kho kalyāṇamittassa kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa, no pāpamittassa no pāpasahāyassa no pāpasampavaṅkassā’”ti.
“Evametaṁ, mahārāja, evametaṁ, mahārāja.
Svākkhāto, mahārāja, mayā dhammo. So ca kho kalyāṇamittassa kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa, no pāpamittassa no pāpasahāyassa no pāpasampavaṅkassāti.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ sakkesu viharāmi nagarakaṁ nāma sakyānaṁ nigamo.
Atha kho, mahārāja, ānando bhikkhu yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, mahārāja, ānando bhikkhu maṁ etadavoca:
‘upaḍḍhamidaṁ, bhante, brahmacariyassa—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā’ti.
Evaṁ vuttāhaṁ, mahārāja, ānandaṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘mā hevaṁ, ānanda, mā hevaṁ, ānanda.
Sakalameva hidaṁ, ānanda, brahmacariyaṁ—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā.
Kalyāṇamittassetaṁ, ānanda, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvessati ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarissati.
Kathañca, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti?
Idhānanda, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ, sammāsaṅkappaṁ bhāveti … sammāvācaṁ bhāveti … sammākammantaṁ bhāveti … sammāājīvaṁ bhāveti … sammāvāyāmaṁ bhāveti … sammāsatiṁ bhāveti … sammāsamādhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti.
Tadamināpetaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā sakalamevidaṁ brahmacariyaṁ—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatāti.
Mamañhi, ānanda, kalyāṇamittaṁ āgamma jātidhammā sattā jātiyā parimuccanti, jarādhammā sattā jarāya parimuccanti, byādhidhammā sattā byādhito parimuccanti, maraṇadhammā sattā maraṇena parimuccanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā sattā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti.
Iminā kho etaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā sakalamevidaṁ brahmacariyaṁ—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā’ti.
Tasmātiha te, mahārāja, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kalyāṇamitto bhavissāmi kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko’ti.
Evañhi te, mahārāja, sikkhitabbaṁ.
Kalyāṇamittassa te, mahārāja, kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa ayaṁ eko dhammo upanissāya vihātabbo—
appamādo kusalesu dhammesu.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, itthāgārassa anuyantassa evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati, appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, khattiyānampi anuyantānaṁ evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, balakāyassapi evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, negamajānapadassapi evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati, appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti?
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, attāpi gutto rakkhito bhavissati—
itthāgārampi guttaṁ rakkhitaṁ bhavissati, kosakoṭṭhāgārampi guttaṁ rakkhitaṁ bhavissatī”ti.
Idamavoca …pe…
“Bhoge patthayamānena,
uḷāre aparāpare;
Appamādaṁ pasaṁsanti,
puññakiriyāsu paṇḍitā;
Appamatto ubho atthe,
adhiggaṇhāti paṇḍito.
Diṭṭhe dhamme ca yo attho,
yo cattho samparāyiko;
Atthābhisamayā dhīro,
paṇḍitoti pavuccatī”ti.
At Sāvatthī.
Seated to one side, King Pasenadi said to the Buddha,
“Just now, sir, as I was in private retreat this thought came to mind.
‘The teaching is well explained by the Buddha. But it’s for someone with good friends, companions, and associates, not for someone with bad friends, companions, and associates.’”
“That’s so true, great king! That’s so true!” said the Buddha. And he repeated the king’s statement, adding:
“Great king, this one time I was staying in the land of the Sakyans where they have a town named Townsville.
Then the mendicant Ānanda came to me, bowed, sat down to one side, and said:
‘Sir, good friends, companions, and associates are half the spiritual life.’
When he had spoken, I said to him:
‘Not so, Ānanda! Not so, Ānanda!
Good friends, companions, and associates are the whole of the spiritual life.
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to develop and cultivate the noble eightfold path.
And how does a mendicant with good friends develop and cultivate the noble eightfold path?
It’s when a mendicant develops right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go.
That’s how a mendicant with good friends develops and cultivates the noble eightfold path.
And here’s another way to understand how good friends are the whole of the spiritual life.
For, by relying on me as a good friend, sentient beings who are liable to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are freed from all these things.
This is another way to understand how good friends are the whole of the spiritual life.’
So, great king, you should train like this:
‘I will have good friends, companions, and associates.’
That’s how you should train.
When you have good friends, companions, and associates, you should live supported by one thing:
diligence in skillful qualities.
When you’re diligent, supported by diligence, your ladies of the harem,
aristocrat vassals,
troops,
and people of town and country will think:
‘The king lives diligently, supported by diligence.
We’d better live diligently, supported by diligence!’
When you’re diligent, supported by diligence, then not only you yourself,
but your ladies of the harem, and your treasury and storehouses will be guarded and protected.”
That is what the Buddha said. …
“For one who desires high wealth
again and again,
the astute praise diligence
in making merit.
Being diligent, an astute person
secures both benefits:
the benefit in this life,
and in lives to come.
Attentive, comprehending the meaning,
they are said to be astute.”
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 … Rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con ngồi yên tĩnh một mình, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du”.
Vi-n 3 —Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, pháp được Ta khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác giao du.
Vi-n 4 Một thời, thưa Ðại vương, Ta ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca) tại một thị trấn của các vị Sakka.
Vi-n 5 Rồi thưa Ðại vương, Tỷ-kheo Ānanda đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Ðại vương, Tỷ-kheo Ānanda bạch với Ta:
“—Bạch Thế Tôn, quá phân nửa đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.”
Vi-n 6 Khi được nói vậy, thưa Ðại vương. Ta nói với Tỷ-kheo Ānanda:
“ —Này Ānanda, không phải vậy. Này Ānanda, không phải vậy. Thật sự, này Ānanda, toàn phần đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du. Từ một Tỷ-kheo làm bạn với thiện, này Ānanda, chúng ta hy vọng rằng vị ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.
Vi-n 7 Và Ānanda, thế nào là Tỷ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
Vi-n 8 Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly, tu tập chánh tư duy…, tu tập chánh ngữ…, tu tập chánh nghiệp…, tu tập chánh mạng…, tu tập chánh tinh tấn…, tu tập chánh niệm…, tu tập chánh định, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly. Như vậy, này Ānanda, là vị Tỷ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 9 Và chính theo pháp môn này, này Ānanda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.
Vi-n 10 Này Ānanda, chính vì Ta y cứ, làm bạn với thiện, nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị bệnh được giải thoát khỏi bệnh; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ ưu, não. Và chính theo pháp môn này, này Ānanda, Ông cần phải hiểu như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.”
Vi-n 11 Do vậy, này Ðại vương, cần phải học như sau: “Tôi sẽ là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du”. Như vậy, này Ðại vương, Ðại vương cần phải học. Này Ðại vương, để Ðại vương có thể trở thành thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, Ðại vương cần phải y cứ, an trú vào một pháp, tức là không phóng dật trong các thiện pháp.
Vi-n 12 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời các nữ cung nhân sẽ suy nghĩ: “Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật.”
Vi-n 13 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các vị Sát-đế-lỵ chư hầu sẽ suy nghĩ: “Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật.”
Vi-n 14 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, các dân chúng ở thị trấn và quốc độ sẽ suy nghĩ: “Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật. Vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật.”
Vi-n 15 Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật, thời tự ngã được che chở, hộ trì, nội cung được che chở, hộ trì, kho tàng được che chở, hộ trì.
Vi-n 16
Người ước mong tài sản,
Phải liên tục tăng thượng,
Người hiền trí tán thán,
Hạnh lành không phóng dật.
Ðối với những người lành,
Làm các hạnh công đức.
Người hiền không phóng dật,
Ðược cả hai lợi ích,
Lợi ích trong đời này,
Lợi ích cả đời sau.
Kẻ anh hùng được gọi
Là bậc chơn hiền trí,
Nếu biết nắm chụp lấy
Hạnh phúc cho chính mình.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo, so ca kho kalyāṇamittassa kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa, no pāpamittassa no pāpasahāyassa no pāpasampavaṅkassā’”ti.
“Evametaṁ, mahārāja, evametaṁ, mahārāja.
Svākkhāto, mahārāja, mayā dhammo. So ca kho kalyāṇamittassa kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa, no pāpamittassa no pāpasahāyassa no pāpasampavaṅkassāti.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ sakkesu viharāmi nagarakaṁ nāma sakyānaṁ nigamo.
Atha kho, mahārāja, ānando bhikkhu yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, mahārāja, ānando bhikkhu maṁ etadavoca:
‘upaḍḍhamidaṁ, bhante, brahmacariyassa—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā’ti.
Evaṁ vuttāhaṁ, mahārāja, ānandaṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘mā hevaṁ, ānanda, mā hevaṁ, ānanda.
Sakalameva hidaṁ, ānanda, brahmacariyaṁ—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā.
Kalyāṇamittassetaṁ, ānanda, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvessati ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarissati.
Kathañca, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti?
Idhānanda, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ, sammāsaṅkappaṁ bhāveti … sammāvācaṁ bhāveti … sammākammantaṁ bhāveti … sammāājīvaṁ bhāveti … sammāvāyāmaṁ bhāveti … sammāsatiṁ bhāveti … sammāsamādhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti.
Tadamināpetaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā sakalamevidaṁ brahmacariyaṁ—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatāti.
Mamañhi, ānanda, kalyāṇamittaṁ āgamma jātidhammā sattā jātiyā parimuccanti, jarādhammā sattā jarāya parimuccanti, byādhidhammā sattā byādhito parimuccanti, maraṇadhammā sattā maraṇena parimuccanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā sattā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti.
Iminā kho etaṁ, ānanda, pariyāyena veditabbaṁ yathā sakalamevidaṁ brahmacariyaṁ—yadidaṁ kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā’ti.
Tasmātiha te, mahārāja, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kalyāṇamitto bhavissāmi kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko’ti.
Evañhi te, mahārāja, sikkhitabbaṁ.
Kalyāṇamittassa te, mahārāja, kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa ayaṁ eko dhammo upanissāya vihātabbo—
appamādo kusalesu dhammesu.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, itthāgārassa anuyantassa evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati, appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, khattiyānampi anuyantānaṁ evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, balakāyassapi evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti.
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, negamajānapadassapi evaṁ bhavissati:
‘rājā kho appamatto viharati, appamādaṁ upanissāya.
Handa mayampi appamattā viharāma, appamādaṁ upanissāyā’ti?
Appamattassa te, mahārāja, viharato appamādaṁ upanissāya, attāpi gutto rakkhito bhavissati—
itthāgārampi guttaṁ rakkhitaṁ bhavissati, kosakoṭṭhāgārampi guttaṁ rakkhitaṁ bhavissatī”ti.
Idamavoca …pe…
“Bhoge patthayamānena,
uḷāre aparāpare;
Appamādaṁ pasaṁsanti,
puññakiriyāsu paṇḍitā;
Appamatto ubho atthe,
adhiggaṇhāti paṇḍito.
Diṭṭhe dhamme ca yo attho,
yo cattho samparāyiko;
Atthābhisamayā dhīro,
paṇḍitoti pavuccatī”ti.