Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, cái gì hiện hữu? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì có mặt, danh sắc hiện hữu? Do cái gì có mặt, sáu xứ hiện hữu? Do cái gì có mặt, xúc hiện hữu? Do cái gì có mặt, thọ hiện hữu? Do cái gì có mặt, ái hiện hữu? Do cái gì có mặt, thủ hiện hữu? Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Do cái gì có mặt, sanh hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu?”
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức. Do duyên thức nên có danh sắc… Do duyên sanh nên có già chết. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự sanh khởi của thế giới này”.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, cái gì không hiện hữu? Do cái gì diệt, cái gì diệt? Do cái gì không có mặt, hành không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, danh sắc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sáu xứ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, xúc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thọ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, ái không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thủ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, hữu không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên theo người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu. Do các hành không có mặt, thức không hiện hữu. Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do danh sắc không có mặt, sáu xứ không hiện hữu. Do sáu xứ không có mặt, xúc không hiện hữu. Do xúc không có mặt, thọ không hiện hữu. Do thọ không có mặt, ái không hiện hữu. Do ái không có mặt, thủ không hiện hữu. Do thủ không có mặt, hữu không hiện hữu. Do hữu không có mặt, sanh không hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự đoạn diệt của thế giới này.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử như thật biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế gian như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử này được gọi là kiến đạt… (như trên)… đã đứng gõ cửa bất tử.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṁ hoti:
‘kiṁ nu kho—
kismiṁ sati kiṁ hoti, kissuppādā kiṁ uppajjati?
Kismiṁ sati saṅkhārā honti, kismiṁ sati viññāṇaṁ hoti, kismiṁ sati nāmarūpaṁ hoti, kismiṁ sati saḷāyatanaṁ hoti, kismiṁ sati phasso hoti, kismiṁ sati vedanā hoti, kismiṁ sati taṇhā hoti, kismiṁ sati upādānaṁ hoti, kismiṁ sati bhavo hoti, kismiṁ sati jāti hoti, kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hotī’ti?
Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā ñāṇamevettha hoti:
‘imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati.
Avijjāya sati saṅkhārā honti;
saṅkhāresu sati viññāṇaṁ hoti;
viññāṇe sati nāmarūpaṁ hoti;
nāmarūpe sati saḷāyatanaṁ hoti;
saḷāyatane sati phasso hoti;
phasse sati vedanā hoti;
vedanāya sati taṇhā hoti;
taṇhāya sati upādānaṁ hoti;
upādāne sati bhavo hoti;
bhave sati jāti hoti;
jātiyā sati jarāmaraṇaṁ hotī’ti.
So evaṁ pajānāti:
‘evamayaṁ loko samudayatī’ti.
Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṁ hoti:
‘kiṁ nu kho—
kismiṁ asati kiṁ na hoti, kissa nirodhā kiṁ nirujjhati?
Kismiṁ asati saṅkhārā na honti, kismiṁ asati viññāṇaṁ na hoti, kismiṁ asati nāmarūpaṁ na hoti, kismiṁ asati saḷāyatanaṁ na hoti, kismiṁ asati phasso na hoti, kismiṁ asati vedanā na hoti, kismiṁ asati taṇhā na hoti, kismiṁ asati upādānaṁ na hoti, kismiṁ asati bhavo na hoti, kismiṁ asati jāti na hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti?
Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā ñāṇamevettha hoti:
‘imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati.
Avijjāya asati saṅkhārā na honti;
saṅkhāresu asati viññāṇaṁ na hoti;
viññāṇe asati nāmarūpaṁ na hoti;
nāmarūpe asati saḷāyatanaṁ na hoti …pe…
bhavo na hoti …
jāti na hoti …
jātiyā asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti.
So evaṁ pajānāti:
‘evamayaṁ loko nirujjhatī’ti.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ lokassa samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi …pe…
amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipī”ti.
Navamaṁ.
SC 1At Savatthī. sn.ii.78 “Bhikkhus, an instructed noble disciple does not think: ‘When what exists does what come to be? With the arising of what does what arise? When what exists do volitional formations come to be? When what exists does consciousness come to be? When what exists does name-and-form come to be?… When what exists does aging-and-death come to be?’
SC 2“Rather, bhikkhus, the instructed noble disciple has knowledge about this that is independent of others: ‘When this exists, that comes to be; with the arising of this, that arises. When there is ignorance, volitional formations come to be. When there are volitional formations, consciousness comes to be. When there is consciousness, name-and-form comes to be…. When there is birth, aging-and-death comes to be.’ He understands thus: ‘In such a way the world originates.’
SC 3“Bhikkhus, an instructed noble disciple does not think: ‘When what does not exist does what not come to be? With the cessation of what does what cease? When what does not exist do volitional formations not come to be? When what does not exist does consciousness not come to be? When what does not exist does name-and-form not come to be?… When what does not exist does aging-and-death not come to be?’”
SC 4“Rather, bhikkhus, the instructed noble disciple has knowledge about this that is independent of others: ‘When this does not exist, that does not come to be; with the cessation of this, that ceases. When there is no ignorance, volitional formations do not come to be. When there are no volitional formations, consciousness does not come to be. When there is no consciousness, name-and-form does not come to be…. When there is no birth, aging-and-death does not come to be.’ He understands thus: ‘In such a way the world ceases.’ sn.ii.79
SC 5“Bhikkhus, when a noble disciple thus understands as they really are the origin and the passing away of the world, he is then called a noble disciple who is accomplished in view, accomplished in vision, who has arrived at this true Dhamma, who sees this true Dhamma, who possesses a trainee’s knowledge, a trainee’s true knowledge, who has entered the stream of the Dhamma, a noble one with penetrative wisdom, one who stands squarely before the door to the Deathless.”
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, cái gì hiện hữu? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì có mặt, danh sắc hiện hữu? Do cái gì có mặt, sáu xứ hiện hữu? Do cái gì có mặt, xúc hiện hữu? Do cái gì có mặt, thọ hiện hữu? Do cái gì có mặt, ái hiện hữu? Do cái gì có mặt, thủ hiện hữu? Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Do cái gì có mặt, sanh hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu?”
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức. Do duyên thức nên có danh sắc… Do duyên sanh nên có già chết. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự sanh khởi của thế giới này”.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, cái gì không hiện hữu? Do cái gì diệt, cái gì diệt? Do cái gì không có mặt, hành không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, danh sắc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sáu xứ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, xúc không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thọ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, ái không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thủ không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, hữu không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên theo người khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu. Do các hành không có mặt, thức không hiện hữu. Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do danh sắc không có mặt, sáu xứ không hiện hữu. Do sáu xứ không có mặt, xúc không hiện hữu. Do xúc không có mặt, thọ không hiện hữu. Do thọ không có mặt, ái không hiện hữu. Do ái không có mặt, thủ không hiện hữu. Do thủ không có mặt, hữu không hiện hữu. Do hữu không có mặt, sanh không hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự đoạn diệt của thế giới này.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử như thật biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế gian như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử này được gọi là kiến đạt… (như trên)… đã đứng gõ cửa bất tử.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṁ hoti:
‘kiṁ nu kho—
kismiṁ sati kiṁ hoti, kissuppādā kiṁ uppajjati?
Kismiṁ sati saṅkhārā honti, kismiṁ sati viññāṇaṁ hoti, kismiṁ sati nāmarūpaṁ hoti, kismiṁ sati saḷāyatanaṁ hoti, kismiṁ sati phasso hoti, kismiṁ sati vedanā hoti, kismiṁ sati taṇhā hoti, kismiṁ sati upādānaṁ hoti, kismiṁ sati bhavo hoti, kismiṁ sati jāti hoti, kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hotī’ti?
Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā ñāṇamevettha hoti:
‘imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati.
Avijjāya sati saṅkhārā honti;
saṅkhāresu sati viññāṇaṁ hoti;
viññāṇe sati nāmarūpaṁ hoti;
nāmarūpe sati saḷāyatanaṁ hoti;
saḷāyatane sati phasso hoti;
phasse sati vedanā hoti;
vedanāya sati taṇhā hoti;
taṇhāya sati upādānaṁ hoti;
upādāne sati bhavo hoti;
bhave sati jāti hoti;
jātiyā sati jarāmaraṇaṁ hotī’ti.
So evaṁ pajānāti:
‘evamayaṁ loko samudayatī’ti.
Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṁ hoti:
‘kiṁ nu kho—
kismiṁ asati kiṁ na hoti, kissa nirodhā kiṁ nirujjhati?
Kismiṁ asati saṅkhārā na honti, kismiṁ asati viññāṇaṁ na hoti, kismiṁ asati nāmarūpaṁ na hoti, kismiṁ asati saḷāyatanaṁ na hoti, kismiṁ asati phasso na hoti, kismiṁ asati vedanā na hoti, kismiṁ asati taṇhā na hoti, kismiṁ asati upādānaṁ na hoti, kismiṁ asati bhavo na hoti, kismiṁ asati jāti na hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti?
Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā ñāṇamevettha hoti:
‘imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati.
Avijjāya asati saṅkhārā na honti;
saṅkhāresu asati viññāṇaṁ na hoti;
viññāṇe asati nāmarūpaṁ na hoti;
nāmarūpe asati saḷāyatanaṁ na hoti …pe…
bhavo na hoti …
jāti na hoti …
jātiyā asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti.
So evaṁ pajānāti:
‘evamayaṁ loko nirujjhatī’ti.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ lokassa samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi …pe…
amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipī”ti.
Navamaṁ.