Vi-n 1-6. Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthi …
… Tôn giả Ānanda thấy … với sự an trú nào?
Vi-n 7-8. —Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tôi chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Nhưng này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay ” Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
—Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Do vậy Tôn giả Sāriputta không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā sāriputto …pe….
“Idhāhaṁ, āvuso, sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharāmi.
Tassa mayhaṁ, āvuso, na evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā.
Tasmā āyasmato sāriputtassa na evaṁ hoti:
“‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Navamaṁ.
At Sāvatthī.
Venerable Ānanda saw Venerable Sāriputta …
“Reverend, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, I entered and remained in the cessation of perception and feeling.
But it didn’t occur to me:
‘I am entering the cessation of perception and feeling’ or ‘I have entered the cessation of perception and feeling’ or ‘I am emerging from the cessation of perception and feeling’.”
“That must be because Venerable Sāriputta has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit.
That’s why it didn’t occur to you:
‘I am entering the cessation of perception and feeling’ or ‘I have entered the cessation of perception and feeling’ or ‘I am emerging from the cessation of perception and feeling’.”
Vi-n 1-6. Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthi …
… Tôn giả Ānanda thấy … với sự an trú nào?
Vi-n 7-8. —Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tôi chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Nhưng này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay ” Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
—Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Do vậy Tôn giả Sāriputta không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā sāriputto …pe….
“Idhāhaṁ, āvuso, sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharāmi.
Tassa mayhaṁ, āvuso, na evaṁ hoti:
‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā.
Tasmā āyasmato sāriputtassa na evaṁ hoti:
“‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Navamaṁ.