Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi một bên:
Vi-n 3 —Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”. Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được tịnh chỉ?
Vi-n 4 Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
… khởi lên cho người lấy của không cho …
… khởi lên cho người tà hạnh trong các dục …
… khởi lên cho người nói láo …
Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ.
Vi-n 5 Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn.”. đối với Pháp … đối với chúng Tăng … vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
Vi-n 6 Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt … nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.
Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt.
Vi-n 7 Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“yato kho, gahapati, ariyasāvakassa pañca bhayāni verāni vūpasantāni ca honti, catūhi ca sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, ariyo cassa ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto; sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’.
Katamāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti?
Yaṁ, gahapati, pāṇātipātī pāṇātipātappaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyati.
Pāṇātipātā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Yaṁ, gahapati, adinnādāyī …pe…
yaṁ, gahapati, kāmesumicchācārī …pe…
yaṁ, gahapati, musāvādī …pe…
yaṁ, gahapati, surāmerayamajjappamādaṭṭhāyī surāmerayamajjappamādaṭṭhānappaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyati.
Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti.
Katamehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti?
Idha, gahapati, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti.
Katamo cassa ariyo ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho?
Idha, gahapati, ariyasāvako paṭiccasamuppādaññeva sādhukaṁ yoniso manasi karoti—
iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati;
iti imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati;
yadidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Ayamassa ariyo ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho.
Yato kho, gahapati, ariyasāvakassa imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti, imehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, ayañcassa ariyo ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho. So ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto; sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Aṭṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, the Buddha said to the householder Anāthapiṇḍika:
“Householder, when a noble disciple has quelled five fears and enmities, possesses the four factors of stream-entry, and has clearly seen and penetrated the noble system with wisdom, they may, if they wish, declare of themselves:
‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am destined for awakening.’
What are the five fears and enmities they have quelled?
Anyone who kills living creatures brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness.
So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from killing living creatures.
Anyone who steals …
Anyone who commits sexual misconduct …
Anyone who lies …
Anyone who consumes beer, wine, and liquor intoxicants brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness.
So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants.
These are the five fears and enmities they have quelled.
What are the four factors of stream-entry that they possess?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
These are the four factors of stream-entry that they possess.
And what is the noble system that they have clearly seen and penetrated with wisdom?
A noble disciple rationally applies the mind to dependent origination itself:
‘When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises.
When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases.' That is:
Ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be.
That is how this entire mass of suffering originates.
When ignorance fades away and ceases with nothing left over, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease.
That is how this entire mass of suffering ceases.
This is the noble system that they have clearly seen and penetrated with wisdom.
When a noble disciple has quelled five fears and enmities, possesses the four factors of stream-entry, and has clearly seen and penetrated the noble system with wisdom, they may, if they wish, declare of themselves:
‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am destined for awakening.’”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi một bên:
Vi-n 3 —Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”. Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được tịnh chỉ?
Vi-n 4 Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
… khởi lên cho người lấy của không cho …
… khởi lên cho người tà hạnh trong các dục …
… khởi lên cho người nói láo …
Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ.
Vi-n 5 Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn.”. đối với Pháp … đối với chúng Tăng … vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
Vi-n 6 Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt … nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.
Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt.
Vi-n 7 Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“yato kho, gahapati, ariyasāvakassa pañca bhayāni verāni vūpasantāni ca honti, catūhi ca sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, ariyo cassa ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto; sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’.
Katamāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti?
Yaṁ, gahapati, pāṇātipātī pāṇātipātappaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyati.
Pāṇātipātā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Yaṁ, gahapati, adinnādāyī …pe…
yaṁ, gahapati, kāmesumicchācārī …pe…
yaṁ, gahapati, musāvādī …pe…
yaṁ, gahapati, surāmerayamajjappamādaṭṭhāyī surāmerayamajjappamādaṭṭhānappaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyati.
Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti.
Katamehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti?
Idha, gahapati, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Imehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti.
Katamo cassa ariyo ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho?
Idha, gahapati, ariyasāvako paṭiccasamuppādaññeva sādhukaṁ yoniso manasi karoti—
iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati;
iti imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati;
yadidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Ayamassa ariyo ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho.
Yato kho, gahapati, ariyasāvakassa imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti, imehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, ayañcassa ariyo ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho. So ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto; sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Aṭṭhamaṁ.