Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Mallikà, tại một thị trấn của dân chúng Mallikà tên là Uruvelakappa.
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú (santhiti), cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú (avatthiti). Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nhà có mái nhọn chưa được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được an trú. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nóc nhà có mái nhọn được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà được an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú. Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú. Thế nào là bốn? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn.
Vi-n 5 Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên lòng tin được đẳng trú, tất nhiên tinh tấn được đẳng trú, tất nhiên niệm được đẳng trú, tất nhiên định được đẳng trú.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā mallesu viharati uruvelakappaṁ nāma mallānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“yāvakīvañca, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ na uppannaṁ hoti neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ uppannaṁ hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, yāvakīvañca kūṭāgārassa kūṭaṁ na ussitaṁ hoti, neva tāva gopānasīnaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva gopānasīnaṁ avaṭṭhiti hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, kūṭāgārassa kūṭaṁ ussitaṁ hoti, atha gopānasīnaṁ saṇṭhiti hoti, atha gopānasīnaṁ avaṭṭhiti hoti.
Evameva kho, bhikkhave, yāvakīvañca ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ na uppannaṁ hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ uppannaṁ hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ …pe… avaṭṭhiti hoti.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Saddhindriyassa, vīriyindriyassa, satindriyassa, samādhindriyassa.
Paññavato, bhikkhave, ariyasāvakassa tadanvayā saddhā saṇṭhāti, tadanvayaṁ vīriyaṁ saṇṭhāti, tadanvayā sati saṇṭhāti, tadanvayo samādhi saṇṭhātī”ti.
Dutiyaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying in the land of the Mallas, near the Mallian town named Uruvelakappa.
There the Buddha addressed the mendicants:
“Mendicants, as long as noble knowledge hasn’t arisen for a noble disciple the four faculties are not stable and fixed.
But when noble knowledge has arisen for a noble disciple the four faculties become stable and fixed.
It’s just like in a bungalow. As long as the roof peak is not lifted into place, the rafters are not stable or fixed.
But when the roof peak is lifted into place, the rafters become stable and fixed.
In the same way, as long as noble knowledge hasn’t arisen for a noble disciple the four faculties are not stable and fixed.
But when noble knowledge has arisen for a noble disciple the four faculties become stable and fixed.
What four?
The faculties of faith, energy, mindfulness, and immersion.
When a noble disciple has wisdom, the faith, energy, mindfulness, and immersion that follow along with that become stabilized.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Mallikà, tại một thị trấn của dân chúng Mallikà tên là Uruvelakappa.
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú (santhiti), cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú (avatthiti). Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nhà có mái nhọn chưa được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được an trú. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nóc nhà có mái nhọn được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà được an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú. Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú. Thế nào là bốn? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn.
Vi-n 5 Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên lòng tin được đẳng trú, tất nhiên tinh tấn được đẳng trú, tất nhiên niệm được đẳng trú, tất nhiên định được đẳng trú.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā mallesu viharati uruvelakappaṁ nāma mallānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“yāvakīvañca, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ na uppannaṁ hoti neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ uppannaṁ hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, yāvakīvañca kūṭāgārassa kūṭaṁ na ussitaṁ hoti, neva tāva gopānasīnaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva gopānasīnaṁ avaṭṭhiti hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, kūṭāgārassa kūṭaṁ ussitaṁ hoti, atha gopānasīnaṁ saṇṭhiti hoti, atha gopānasīnaṁ avaṭṭhiti hoti.
Evameva kho, bhikkhave, yāvakīvañca ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ na uppannaṁ hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ uppannaṁ hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ …pe… avaṭṭhiti hoti.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Saddhindriyassa, vīriyindriyassa, satindriyassa, samādhindriyassa.
Paññavato, bhikkhave, ariyasāvakassa tadanvayā saddhā saṇṭhāti, tadanvayaṁ vīriyaṁ saṇṭhāti, tadanvayā sati saṇṭhāti, tadanvayo samādhi saṇṭhātī”ti.
Dutiyaṁ.