Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống.
Vi-n 4 Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.
Vi-n 5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.
Vi-n 6-8. … quán thọ … quán tưởng … quán các hành …
Vi-n 9 … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn.
Vi-n 10 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11-14. —Thọ … Tưởng … Các hành … Thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 15-16. Do vậy … Thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
“Seyyathāpi, bhikkhave, nadī pabbateyyā ohārinī dūraṅgamā sīghasotā. Tassā ubhosu tīresu kāsā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; kusā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; pabbajā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; bīraṇā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; rukkhā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ. Tassā puriso sotena vuyhamāno kāse cepi gaṇheyya, te palujjeyyuṁ. So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjeyya. Kuse cepi gaṇheyya, pabbaje cepi gaṇheyya, bīraṇe cepi gaṇheyya, rukkhe cepi gaṇheyya, te palujjeyyuṁ. So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjeyya.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Tassa taṁ rūpaṁ palujjati.
So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjati.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tassa taṁ viññāṇaṁ palujjati.
So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjati.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
…pe…
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, suppose there was a mountain river sweeping downwards, flowing into the distance with a swift current. If on either bank of the river kasa grass or kusa grass were to grow, it would overhang it; if rushes, reeds, or trees were to grow, they would overhang it. If a man being carried along by the current should grasp the kasa grass, it would break off and he would thereby meet with calamity and disaster; if he should grasp the kusa grass, it would break off and he would thereby meet with calamity and disaster; if he should grasp the rushes, reeds, or trees, sn.iii.138 they would break off and he would thereby meet with calamity and disaster.
SC 2“So too, bhikkhus, the uninstructed worldling … regards form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. That form of his disintegrates and he thereby meets with calamity and disaster. He regards feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness. That consciousness of his disintegrates and he thereby meets with calamity and disaster.
SC 3“What do you think, bhikkhus, is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”…—“Therefore … Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu cỏ lau kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ kàsà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại lau babbakjà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cỏ bìranà mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống; nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rũ xuống.
Vi-n 4 Và một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi, nếu người ấy nắm lấy cỏ lau kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại cỏ kàsà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy loại lau babbakjà, cỏ này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu người ấy nắm lấy các loại cây, loại cây này có thể bựt đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.
Vi-n 5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn.
Vi-n 6-8. … quán thọ … quán tưởng … quán các hành …
Vi-n 9 … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy rơi vào tai ách khổ nạn.
Vi-n 10 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11-14. —Thọ … Tưởng … Các hành … Thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 15-16. Do vậy … Thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
“Seyyathāpi, bhikkhave, nadī pabbateyyā ohārinī dūraṅgamā sīghasotā. Tassā ubhosu tīresu kāsā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; kusā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; pabbajā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; bīraṇā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ; rukkhā cepi jātā assu, te naṁ ajjholambeyyuṁ. Tassā puriso sotena vuyhamāno kāse cepi gaṇheyya, te palujjeyyuṁ. So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjeyya. Kuse cepi gaṇheyya, pabbaje cepi gaṇheyya, bīraṇe cepi gaṇheyya, rukkhe cepi gaṇheyya, te palujjeyyuṁ. So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjeyya.
Evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Tassa taṁ rūpaṁ palujjati.
So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjati.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tassa taṁ viññāṇaṁ palujjati.
So tatonidānaṁ anayabyasanaṁ āpajjati.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
…pe…
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Paṭhamaṁ.