Vi-n 1-2. Nhân duyên tại Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác. Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi khác.
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
Vi-n 5 Với ai, này các Tỷ-kheo, kham nhẫn một ít Thiền quán, như vậy với trí tuệ về những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy pháp hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy, phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
Vi-n 6 Với ai, này các Tỷ-kheo, đối với những pháp này, biết rõ như vậy, thấy như vậy, vị ấy được gọi là đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi;
sotaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi;
ghānaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi;
jivhā aniccā vipariṇāmī aññathābhāvī;
kāyo anicco vipariṇāmi aññathābhāvi;
mano anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ saddahati adhimuccati—ayaṁ vuccati saddhānusārī, okkanto sammattaniyāmaṁ, sappurisabhūmiṁ okkanto, vītivatto puthujjanabhūmiṁ;
abhabbo taṁ kammaṁ kātuṁ, yaṁ kammaṁ katvā nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā pettivisayaṁ vā upapajjeyya;
abhabbo ca tāva kālaṁ kātuṁ yāva na sotāpattiphalaṁ sacchikaroti.
Yassa kho, bhikkhave, ime dhammā evaṁ paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti, ayaṁ vuccati: ‘dhammānusārī, okkanto sammattaniyāmaṁ, sappurisabhūmiṁ okkanto, vītivatto puthujjanabhūmiṁ;
abhabbo taṁ kammaṁ kātuṁ, yaṁ kammaṁ katvā nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā pettivisayaṁ vā upapajjeyya;
abhabbo ca tāva kālaṁ kātuṁ yāva na sotāpattiphalaṁ sacchikaroti’.
Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ pajānāti evaṁ passati, ayaṁ vuccati: ‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano’”ti.
Paṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, the eye is impermanent, decaying, and perishing.
The ear,
nose,
tongue,
body,
and mind are impermanent, decaying, and perishing.
Someone who has faith and confidence in these teachings is called a follower by faith. They’ve stepped into the sure path, they’ve stepped into the level of the true person, and they’ve passed beyond the level of the untrue person.
They can’t do any deed which would make them be reborn in hell, the animal realm, or the ghost realm.
They can’t die without realizing the fruit of stream-entry.
Someone who accepts these teachings after deliberating them with a degree of wisdom is called a follower of teachings. They’ve stepped into the sure path, they’ve stepped into the level of the true person, and they’ve passed beyond the level of the untrue person.
They can’t do any deed which would make them be reborn in hell, the animal realm, or the ghost realm.
They can’t die without realizing the fruit of stream-entry.
Someone who understands and sees these principles is called a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên tại Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác. Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi khác.
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
Vi-n 5 Với ai, này các Tỷ-kheo, kham nhẫn một ít Thiền quán, như vậy với trí tuệ về những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy pháp hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy, phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
Vi-n 6 Với ai, này các Tỷ-kheo, đối với những pháp này, biết rõ như vậy, thấy như vậy, vị ấy được gọi là đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Cakkhuṁ, bhikkhave, aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi;
sotaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi;
ghānaṁ aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi;
jivhā aniccā vipariṇāmī aññathābhāvī;
kāyo anicco vipariṇāmi aññathābhāvi;
mano anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ saddahati adhimuccati—ayaṁ vuccati saddhānusārī, okkanto sammattaniyāmaṁ, sappurisabhūmiṁ okkanto, vītivatto puthujjanabhūmiṁ;
abhabbo taṁ kammaṁ kātuṁ, yaṁ kammaṁ katvā nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā pettivisayaṁ vā upapajjeyya;
abhabbo ca tāva kālaṁ kātuṁ yāva na sotāpattiphalaṁ sacchikaroti.
Yassa kho, bhikkhave, ime dhammā evaṁ paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti, ayaṁ vuccati: ‘dhammānusārī, okkanto sammattaniyāmaṁ, sappurisabhūmiṁ okkanto, vītivatto puthujjanabhūmiṁ;
abhabbo taṁ kammaṁ kātuṁ, yaṁ kammaṁ katvā nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā pettivisayaṁ vā upapajjeyya;
abhabbo ca tāva kālaṁ kātuṁ yāva na sotāpattiphalaṁ sacchikaroti’.
Yo, bhikkhave, ime dhamme evaṁ pajānāti evaṁ passati, ayaṁ vuccati: ‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano’”ti.
Paṭhamaṁ.