Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?
—Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.
Vi-n 4-5. … (như kinh trên 49, đoạn số 4,5) …
“Seyyathāpi, bhikkhave, pokkharaṇī paññāsayojanāni āyāmena, paññāsayojanāni vitthārena, paññāsayojanāni ubbedhena, puṇṇā udakassa samatittikā kākapeyyā.
Tato puriso kusaggena udakaṁ uddhareyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
katamaṁ nu kho bahutaraṁ—yaṁ vā kusaggena ubbhataṁ, yaṁ vā pokkharaṇiyā udakan”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ, yadidaṁ—pokkharaṇiyā udakaṁ; appamattakaṁ kusaggena udakaṁ ubbhataṁ.
Saṅkhampi na upeti, upanidhampi na upeti, kalabhāgampi na upeti pokkharaṇiyā udakaṁ upanidhāya kusaggena udakaṁ ubbhatan”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa …pe…
yogo karaṇīyo”ti.
Dutiyaṁ.
“Mendicants, suppose there was a lotus pond that was fifty leagues long, fifty leagues wide, and fifty leagues deep, full to the brim so a crow could drink from it.
Then a person would pick up some water on the tip of a blade of grass.
What do you think, mendicants?
Which is more: the water on the tip of the blade of grass, or the water in the lotus pond?”
“Sir, the water in the lotus pond is certainly more. The water on the tip of a blade of grass is tiny.
Compared to the water in the lotus pond, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”
“In the same way, for a noble disciple …
That’s why you should practice meditation …”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?
—Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa.
Vi-n 4-5. … (như kinh trên 49, đoạn số 4,5) …
“Seyyathāpi, bhikkhave, pokkharaṇī paññāsayojanāni āyāmena, paññāsayojanāni vitthārena, paññāsayojanāni ubbedhena, puṇṇā udakassa samatittikā kākapeyyā.
Tato puriso kusaggena udakaṁ uddhareyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
katamaṁ nu kho bahutaraṁ—yaṁ vā kusaggena ubbhataṁ, yaṁ vā pokkharaṇiyā udakan”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ, yadidaṁ—pokkharaṇiyā udakaṁ; appamattakaṁ kusaggena udakaṁ ubbhataṁ.
Saṅkhampi na upeti, upanidhampi na upeti, kalabhāgampi na upeti pokkharaṇiyā udakaṁ upanidhāya kusaggena udakaṁ ubbhatan”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa …pe…
yogo karaṇīyo”ti.
Dutiyaṁ.