Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa những người Sumbha, tại một thị trấn của những người Sumbha tên là Setaka.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Udāyi, đi đến Thế Tôn … ngồi xuống một bên, Tôn giả Udāyi bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Xúc động nhiều thay (bahukatam), bạch Thế Tôn, là lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí của con đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, trước khi con còn là người tại gia, con không có nhiều xúc động (bahukata) đối với Pháp, không có nhiều xúc động đối với Tăng. Nhưng, bạch Thế Tôn, khi con cảm thấy (sampassamàno) lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí đối với Thế Tôn, thời con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và Thế Tôn thuyết pháp cho con: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, đây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt … Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt, đây là con đường đưa đến thức đoạn diệt”.
Vi-n 4 Rồi, bạch Thế Tôn, con đi đến chỗ nhà trống, và trong khi tùy quán (samparivattento) theo sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, con như thật thắng tri: “Ðây là khổ”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ tập khởi”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ diệt”. Con như thật thắng tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
Vi-n 5 Pháp, bạch Thế Tôn, được con hoàn toàn chứng tri (abhisamito). Con đường được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đắc như vậy (tathattàya). Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con chứng được niệm giác chi. Niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết được rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa” … Con chứng được, bạch Thế Tôn, xả giác chi. Xả này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con đường này được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 6 —Lành thay, lành thay, này Udāyi! Con đường này, này Udāyi, Ông chứng được, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ dắt dẫn Ông, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, Ông sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sumbhesu viharati setakaṁ nāma sumbhānaṁ nigamo.
Atha kho āyasmā udāyī yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca:
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva bahukatañca me, bhante, bhagavati pemañca gāravo ca hirī ca ottappañca.
Ahañhi, bhante, pubbe agārikabhūto samāno abahukato ahosiṁ dhammena abahukato saṅghena.
So khvāhaṁ bhagavati pemañca gāravañca hiriñca ottappañca sampassamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Tassa me bhagavā dhammaṁ desesi:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …pe…
iti saññā …
iti saṅkhārā …
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
So khvāhaṁ, bhante, suññāgāragato imesaṁ pañcupādānakkhandhānaṁ ukkujjāvakujjaṁ samparivattento ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ.
Dhammo ca me, bhante, abhisamito, maggo ca me paṭiladdho;
yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmi.
Satisambojjhaṅgo me, bhante, paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmi …pe…
upekkhāsambojjhaṅgo me, bhante, paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmi.
Ayaṁ kho me, bhante, maggo paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmī”ti.
“Sādhu sādhu, udāyi.
Eso hi te, udāyi, maggo paṭiladdho, yo te bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathā tvaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissasī”ti.
Dasamaṁ.
Udāyivaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Bodhāya desanā ṭhānā,
ayoniso cāparihānī;
Khayo nirodho nibbedho,
ekadhammo udāyināti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sumbhas, where there was a town of the Sumbhas named Sedaka. Then the Venerable Udayī approached the Blessed One … and said to him:
SC 2“It is wonderful, venerable sir! It is amazing, venerable sir, how helpful has been my devotion and reverence for the Blessed One, my sense of shame and fear of wrongdoing. For in the past, venerable sir, when I was still a householder, I did not have much concern for the Dhamma or the Saṅgha. But when I considered my devotion and reverence for the Blessed One, and my sense of shame and fear of wrongdoing, I went forth from the household life into homelessness. The Blessed One taught me the Dhamma thus: ‘Such is form, such its origin, such its passing away; such is feeling … such is perception … such are volitional formations … such is consciousness, such its origin, such its passing away.’
SC 3“Then, venerable sir, while I was staying in an empty hut following along with the surge and decline of the five aggregates subject to clinging, I directly knew as it really is: ‘This is suffering’; sn.v.90 I directly knew as it really is: ‘This is the origin of suffering’; I directly knew as it really is: ‘This is the cessation of suffering’; I directly knew as it really is: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’ I have made the breakthrough to the Dhamma, venerable sir, and have obtained the path which, when I have developed and cultivated it, will lead me on, while I am dwelling in the appropriate way, to such a state that I shall understand: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’
SC 4“I have obtained the enlightenment factor of mindfulness which, when I have developed and cultivated it, will lead me on, while I am dwelling in the appropriate way, to such a state that I shall understand: ‘Destroyed is birth … there is no more for this state of being.’… I have obtained the enlightenment factor of equanimity which, when I have developed and cultivated it, will lead me on, while I am dwelling in the appropriate way, to such a state that I shall understand: ‘Destroyed is birth … there is no more for this state of being.’
SC 5“This, venerable sir, is the path that I have obtained, which … will lead me on … to such a state that I shall understand: ‘Destroyed is birth … there is no more for this state of being.’”
SC 6“Good, good, Udayī! Indeed, Udayī, this is the path that you have obtained, and when you have developed and cultivated it, it will lead you on, while you are dwelling in the appropriate way, to such a state that you will understand: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’” sn.v.91
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa những người Sumbha, tại một thị trấn của những người Sumbha tên là Setaka.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Udāyi, đi đến Thế Tôn … ngồi xuống một bên, Tôn giả Udāyi bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Xúc động nhiều thay (bahukatam), bạch Thế Tôn, là lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí của con đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, trước khi con còn là người tại gia, con không có nhiều xúc động (bahukata) đối với Pháp, không có nhiều xúc động đối với Tăng. Nhưng, bạch Thế Tôn, khi con cảm thấy (sampassamàno) lòng ái mộ, tôn kính, lòng tàm và quí đối với Thế Tôn, thời con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Và Thế Tôn thuyết pháp cho con: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, đây là con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt … Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt, đây là con đường đưa đến thức đoạn diệt”.
Vi-n 4 Rồi, bạch Thế Tôn, con đi đến chỗ nhà trống, và trong khi tùy quán (samparivattento) theo sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, con như thật thắng tri: “Ðây là khổ”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ tập khởi”. Con như thật thắng tri: “Ðây là khổ diệt”. Con như thật thắng tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
Vi-n 5 Pháp, bạch Thế Tôn, được con hoàn toàn chứng tri (abhisamito). Con đường được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đắc như vậy (tathattàya). Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con chứng được niệm giác chi. Niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết được rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa” … Con chứng được, bạch Thế Tôn, xả giác chi. Xả này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Bạch Thế Tôn, con đường này được con chứng đắc, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ dắt dẫn con, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, con sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 6 —Lành thay, lành thay, này Udāyi! Con đường này, này Udāyi, Ông chứng được, con đường này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ dắt dẫn Ông, với sự an trú như vậy, như vậy, đạt đến sự chứng đạt như vậy. Nhờ vậy, Ông sẽ rõ biết rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sumbhesu viharati setakaṁ nāma sumbhānaṁ nigamo.
Atha kho āyasmā udāyī yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca:
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva bahukatañca me, bhante, bhagavati pemañca gāravo ca hirī ca ottappañca.
Ahañhi, bhante, pubbe agārikabhūto samāno abahukato ahosiṁ dhammena abahukato saṅghena.
So khvāhaṁ bhagavati pemañca gāravañca hiriñca ottappañca sampassamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Tassa me bhagavā dhammaṁ desesi:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …pe…
iti saññā …
iti saṅkhārā …
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
So khvāhaṁ, bhante, suññāgāragato imesaṁ pañcupādānakkhandhānaṁ ukkujjāvakujjaṁ samparivattento ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ.
Dhammo ca me, bhante, abhisamito, maggo ca me paṭiladdho;
yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmi.
Satisambojjhaṅgo me, bhante, paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmi …pe…
upekkhāsambojjhaṅgo me, bhante, paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmi.
Ayaṁ kho me, bhante, maggo paṭiladdho, yo me bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathāhaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissāmī”ti.
“Sādhu sādhu, udāyi.
Eso hi te, udāyi, maggo paṭiladdho, yo te bhāvito bahulīkato tathā tathā viharantaṁ tathattāya upanessati yathā tvaṁ:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānissasī”ti.
Dasamaṁ.
Udāyivaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Bodhāya desanā ṭhānā,
ayoniso cāparihānī;
Khayo nirodho nibbedho,
ekadhammo udāyināti.