Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 3 Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trong một hồ nước có một gia đình con rùa sống tại đấy đã lâu ngày.
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, một con rùa nói với một con rùa khác:
“ —Này Rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy”.
Vi-n 5 Con rùa này, này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng nó với cây lao có dây.
Vi-n 6 Rồi con rùa ấy đi đến con rùa kia.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với con rùa này:
“ —Này Rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia?”
“ —Này Rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia”.
Vi-n 8 “ —Này Rùa thân mến, bạn có bị thương, bị bắn trúng không?”
“ —Này Rùa thân mến, tôi không bị thương, không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính theo trên lưng tôi”.
Vi-n 9 “ —Này Rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này Rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, mà cha Bạn và Ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi, Rùa thân mến. Nay Bạn không còn thuộc chúng ta nữa!”
Vi-n 10 Người thợ săn, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ác ma. Cái lao, này các Tỷ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng. Sợi dây, này các Tỷ-kheo, chỉ cho hỷ tham.
Vi-n 11 Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng, hưởng thọ và ái luyến; vị ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Vi-n 12 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng …
Vi-n 13 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko …pe… adhigamāya.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, aññatarasmiṁ udakarahade mahākummakulaṁ ciranivāsi ahosi.
Atha kho, bhikkhave, aññataro kummo aññataraṁ kummaṁ etadavoca:
‘mā kho tvaṁ, tāta kumma, etaṁ padesaṁ agamāsī’ti.
Agamāsi kho, bhikkhave, so kummo taṁ padesaṁ.
Tamenaṁ luddo papatāya vijjhi.
Atha kho, bhikkhave, so kummo yena so kummo tenupasaṅkami.
Addasā kho, bhikkhave, so kummo taṁ kummaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna taṁ kummaṁ etadavoca:
‘kacci tvaṁ, tāta kumma, na taṁ padesaṁ agamāsī’ti?
‘Agamāsiṁ khvāhaṁ, tāta kumma, taṁ padesan’ti.
‘Kacci panāsi, tāta kumma, akkhato anupahato’ti?
‘Akkhato khomhi, tāta kumma, anupahato, atthi ca me idaṁ suttakaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhan’ti.
‘Tagghasi, tāta kumma, khato, taggha upahato.
Etena hi te, tāta kumma, suttakena pitaro ca pitāmahā ca anayaṁ āpannā byasanaṁ āpannā.
Gaccha dāni tvaṁ, tāta kumma, na dāni tvaṁ amhākan’ti.
Luddoti kho, bhikkhave, mārassetaṁ pāpimato adhivacanaṁ.
Papatāti kho, bhikkhave, lābhasakkārasilokassetaṁ adhivacanaṁ.
Suttakanti kho, bhikkhave, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ assādeti nikāmeti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu giddho papatāya anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo pāpimato.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko …pe…
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Tatiyaṁ.
At Sāvatthī.
“Possessions, honor, and popularity are grim …
Once upon a time in a certain lake there was a large family of turtles that had lived there for a long time.
Then one of the turtles said to another,
‘My dear turtle, don’t you go to that place.’
But that turtle did go to that place,
and a hunter pierced her with a harpoon.
Then that turtle went back to the other turtle.
When the other turtle saw her coming off in the distance,
he said,
‘My dear turtle, I hope you didn’t go to that place!’
‘I did.’
‘But my dear turtle, I hope you’re not hurt or injured!’
‘I’m not hurt or injured. But this cord keeps dragging behind me.’
‘Indeed, my dear turtle, you’re hurt and injured!
Your father and grandfather met with tragedy and disaster because of such a cord.
Go now, you are no longer one of us.’
‘Hunter’ is a term for Māra the Wicked.
‘Harpoon’ is a term for possessions, honor, and popularity.
‘Cord’ is a term for greed and relishing.
Whoever enjoys and likes arisen possessions, honor, and popularity is called a mendicant who has been pierced with a harpoon. They’ve met with tragedy and disaster, and the Wicked One can do with them what he wants.
So grim are possessions, honor, and popularity. …”
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 3 Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trong một hồ nước có một gia đình con rùa sống tại đấy đã lâu ngày.
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, một con rùa nói với một con rùa khác:
“ —Này Rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy”.
Vi-n 5 Con rùa này, này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng nó với cây lao có dây.
Vi-n 6 Rồi con rùa ấy đi đến con rùa kia.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với con rùa này:
“ —Này Rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia?”
“ —Này Rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia”.
Vi-n 8 “ —Này Rùa thân mến, bạn có bị thương, bị bắn trúng không?”
“ —Này Rùa thân mến, tôi không bị thương, không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính theo trên lưng tôi”.
Vi-n 9 “ —Này Rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này Rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, mà cha Bạn và Ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi, Rùa thân mến. Nay Bạn không còn thuộc chúng ta nữa!”
Vi-n 10 Người thợ săn, này các Tỷ-kheo, chỉ cho ác ma. Cái lao, này các Tỷ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng. Sợi dây, này các Tỷ-kheo, chỉ cho hỷ tham.
Vi-n 11 Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng, hưởng thọ và ái luyến; vị ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là Tỷ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Vi-n 12 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng …
Vi-n 13 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu học.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko …pe… adhigamāya.
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, aññatarasmiṁ udakarahade mahākummakulaṁ ciranivāsi ahosi.
Atha kho, bhikkhave, aññataro kummo aññataraṁ kummaṁ etadavoca:
‘mā kho tvaṁ, tāta kumma, etaṁ padesaṁ agamāsī’ti.
Agamāsi kho, bhikkhave, so kummo taṁ padesaṁ.
Tamenaṁ luddo papatāya vijjhi.
Atha kho, bhikkhave, so kummo yena so kummo tenupasaṅkami.
Addasā kho, bhikkhave, so kummo taṁ kummaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna taṁ kummaṁ etadavoca:
‘kacci tvaṁ, tāta kumma, na taṁ padesaṁ agamāsī’ti?
‘Agamāsiṁ khvāhaṁ, tāta kumma, taṁ padesan’ti.
‘Kacci panāsi, tāta kumma, akkhato anupahato’ti?
‘Akkhato khomhi, tāta kumma, anupahato, atthi ca me idaṁ suttakaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhan’ti.
‘Tagghasi, tāta kumma, khato, taggha upahato.
Etena hi te, tāta kumma, suttakena pitaro ca pitāmahā ca anayaṁ āpannā byasanaṁ āpannā.
Gaccha dāni tvaṁ, tāta kumma, na dāni tvaṁ amhākan’ti.
Luddoti kho, bhikkhave, mārassetaṁ pāpimato adhivacanaṁ.
Papatāti kho, bhikkhave, lābhasakkārasilokassetaṁ adhivacanaṁ.
Suttakanti kho, bhikkhave, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ assādeti nikāmeti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu giddho papatāya anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo pāpimato.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko …pe…
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Tatiyaṁ.