Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một vị Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Trong ngôi nhà thiêu cháy,
Vật dụng đem ra ngoài,
Vật ấy có lợi ích,
Không phải vật bị thiêu.
Cũng vậy trong đời này,
Bị già chết thiêu cháy,
Hãy đem ra, bằng thí,
Vật thí, khéo đem ra.
Có thí, có lạc quả,
Không thí, không như vậy.
Kẻ trộm, vua cướp đoạt,
Lửa thiêu đốt hủy hoại,
Khi giờ cuối cùng đến,
Bỏ thân, bỏ sở hữu.
Kẻ trí, hiểu biết vậy,
Thọ dụng và bố thí,
Thí xong, thọ dụng xong,
Theo lực hành động ấy,
Không bị ai chỉ trích,
Vị ấy được sanh Thiên.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Ādittasmiṁ agārasmiṁ,
yaṁ nīharati bhājanaṁ;
Taṁ tassa hoti atthāya,
no ca yaṁ tattha ḍayhati.
Evaṁ ādittako loko,
jarāya maraṇena ca;
Nīharetheva dānena,
dinnaṁ hoti sunīhataṁ.
Dinnaṁ sukhaphalaṁ hoti,
nādinnaṁ hoti taṁ tathā;
Corā haranti rājāno,
aggi ḍahati nassati.
Atha antena jahati,
Sarīraṁ sapariggahaṁ;
Etadaññāya medhāvī,
Bhuñjetha ca dadetha ca;
Datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṁ,
Anindito saggamupeti ṭhānan”ti.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Then, when the night had advanced, a certain devatā of stunning beauty, illuminating the entire Jeta’s Grove, approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, stood to one side, and recited these verses in the presence of the Blessed One:
SC 2 “When one’s house is ablaze
The vessel taken out
Is the one that is useful,
Not the one left burnt inside.
SC 3 “So when the world is ablaze
With the fires of aging and death,
One should take out one’s wealth by giving:
What is given is well salvaged. sn.i.32
SC 4 “What is given yields pleasant fruit,
But not so what is not given.
Thieves take it away, or kings,
It gets burnt by fire or is lost.
SC 5 “Then in the end one leaves the body
Along with one’s possessions.
Having understood this, the wise person
Should enjoy himself but also give.
Having given and enjoyed as fits his means,
Blameless he goes to the heavenly state.”
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một vị Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Trong ngôi nhà thiêu cháy,
Vật dụng đem ra ngoài,
Vật ấy có lợi ích,
Không phải vật bị thiêu.
Cũng vậy trong đời này,
Bị già chết thiêu cháy,
Hãy đem ra, bằng thí,
Vật thí, khéo đem ra.
Có thí, có lạc quả,
Không thí, không như vậy.
Kẻ trộm, vua cướp đoạt,
Lửa thiêu đốt hủy hoại,
Khi giờ cuối cùng đến,
Bỏ thân, bỏ sở hữu.
Kẻ trí, hiểu biết vậy,
Thọ dụng và bố thí,
Thí xong, thọ dụng xong,
Theo lực hành động ấy,
Không bị ai chỉ trích,
Vị ấy được sanh Thiên.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Ādittasmiṁ agārasmiṁ,
yaṁ nīharati bhājanaṁ;
Taṁ tassa hoti atthāya,
no ca yaṁ tattha ḍayhati.
Evaṁ ādittako loko,
jarāya maraṇena ca;
Nīharetheva dānena,
dinnaṁ hoti sunīhataṁ.
Dinnaṁ sukhaphalaṁ hoti,
nādinnaṁ hoti taṁ tathā;
Corā haranti rājāno,
aggi ḍahati nassati.
Atha antena jahati,
Sarīraṁ sapariggahaṁ;
Etadaññāya medhāvī,
Bhuñjetha ca dadetha ca;
Datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṁ,
Anindito saggamupeti ṭhānan”ti.